
Người dân được tự cam kết mức thu nhập để mua nhà ở xã hội nếu không có giấy tờ chứng minh (Hình từ Internet)
Theo Công văn 511/C06-TTDLDC năm 2026 của Bộ Công an về việc thực hiện xác nhận điều kiện về thu nhập theo quy định tại Nghị định 261/2025/NĐ-CP của Chính phủ.
Công an cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi ở hiện tại căn cử thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để xác nhận điều kiện về thu nhập đối với các đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 76 Luật Nhà ở (người thu nhập thấp tại khu vực đô thị) trong trường hợp không có Hợp đồng lao động (theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư 32/2025/TT-BXD ngày 10/11/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở).
Tuy nhiên, hiện nay, thông tin về thu nhập của các đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 76 Luật Nhà ở trong trường hợp không có Hợp đồng lao động không có trong hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Vì vậy, trong quá trình triển khai thực hiện, Công an cấp xã gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và không đủ căn cứ để xác nhận nội dung này.
Theo đó, để thực hiện đồng bộ, thống nhất việc xác nhận điều kiện về thu nhập theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 261/2025/NĐ-CP, Bộ Công an đề nghị Công an các địa phương thực hiện như sau:
(1) Công an cấp xã có thể căn cứ vào giấy tờ chứng minh về thu nhập do người dân cung cấp (nếu có) để xác nhận điều kiện về thu nhập phục vụ việc thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội.
Trường hợp người dân không có giấy tờ để chứng minh về thu nhập thì đề nghị người dân cam kết về nội dung đã kê khai với Công an cấp xã.
Trên cơ sở đó, Công an cấp xã xác nhận về việc người dân cư trú trên địa bàn quản lý có nội dung kê khai về thu nhập theo Mẫu số 05 Tải về ban hành kèm theo Thông tư 32/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 05/2024/TT-BXD quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở.
(2) Công an địa phương chỉ đạo, hướng dẫn Công an cấp xã vận dụng linh hoạt các giải pháp trên để hỗ trợ xác nhận điều kiện về thu nhập cho người dân đúng đối tượng, đúng quy định, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người dân, đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ, phòng ngừa các hành vi, vụ việc lợi dụng chính sách của Nhà nước để trục lợi, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.
Như vậy, Người dân được tự cam kết mức thu nhập để mua nhà ở xã hội nếu không có giấy tờ chứng minh
Theo đó, tại Điều 30 Nghị định 100/2024/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Nghị định 261/2025/NĐ-CP quy định điều kiện về thu nhập để mua nhà ở xã hội như sau:
(1) Đối với các đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập như sau:
(i) Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 20 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 30 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
(ii) Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 40 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Lưu ý: Thời gian xác định điều kiện về thu nhập theo quy định tại (i), (ii) là trong 12 tháng liền kề, tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận.
Căn cứ điều kiện, mức thu nhập của từng khu vực trên địa bàn, chính sách ưu đãi về nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức, số lượng người phụ thuộc theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyết định hệ số điều chỉnh mức thu nhập quy định tại (i), (ii) nhưng không vượt quá tỷ lệ giữa thu nhập bình quân đầu người tại địa phương so với thu nhập bình quân đầu người của cả nước; quyết định chính sách khuyến khích tiếp cận nhà ở xã hội đối với đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội có từ ba (03) người phụ thuộc trở lên trong cùng một hộ gia đình.
(2) Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 trong trường hợp không có Hợp đồng lao động thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập theo quy định tại (1) và được cơ quan Công an cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi ở hiện tại xác nhận.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận, cơ quan Công an cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi ở tại thời điểm đối tượng đề nghị xác nhận căn cứ thông tin cơ sở dữ liệu về dân cư để thực hiện việc xác nhận điều kiện về thu nhập
(3) Đối với đối tượng quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 thì phải thuộc trường hợp hộ gia đình nghèo, cận nghèo theo chuẩn nghèo của Chính phủ.
(4) Đối với đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 thì áp dụng điều kiện thu nhập theo quy định tại Điều 67 Nghị định 100/2024/NĐ-CP (sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Nghị định 261/2025/NĐ-CP), cụ thể như sau:
(i) Trường hợp người đứng đơn là người độc thân thì có thu nhập hàng tháng thực nhận không quá tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm Đại tá (gồm lương cơ bản và phụ cấp theo quy định) được cơ quan, đơn vị nơi công tác, quản lý xác nhận.
(ii) Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật:
- Người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó đều thuộc đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 thì có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 2,0 lần tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm Đại tá (gồm lương cơ bản và phụ cấp theo quy định) được cơ quan, đơn vị nơi công tác, quản lý xác nhận;
- Vợ (chồng) của người đứng đơn không thuộc đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 thì có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 1,5 lần tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm Đại tá (gồm lương cơ bản và phụ cấp theo quy định) được cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Trường hợp vợ (chồng) của người đứng đơn thuộc đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 trong trường hợp không có Hợp đồng lao động thì thực hiện việc xác nhận điều kiện về thu nhập theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Nghị định 100/2024/NĐ-CP.
Lưu ý: Thời gian xác nhận điều kiện về thu nhập trong 01 năm liền kề, tính từ thời điểm nộp hồ sơ mua, thuê mua nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân.