
Từ 06/02/2026 phòng ngừa rủi ro đối với chứng quyền có bảo đảm theo quy định mới (Hình từ Internet)
Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư 122/2025/TT-BTC hướng dẫn về chứng quyền có bảo đảm, có hiệu lực từ 06/02/2026.
Tại Điều 10 Thông tư 122/2025/TT-BTC quy định hoạt động phòng ngừa rủi ro như sau:
1. Việc ban hành các quy trình, quy chế
(i) Tổ chức phát hành chứng quyền có bảo đảm phải ban hành các quy trình nghiệp vụ (bao gồm quy trình về chào bán, lưu ký, niêm yết, tạo lập thị trường, phòng ngừa rủi ro, thực hiện chứng quyền) và quy trình kiểm soát nội bộ đảm bảo phù hợp với quy định pháp luật và đặc điểm hoạt động của công ty.
(ii) Tổ chức phát hành phải có quy trình quản trị rủi ro được cấp có thẩm quyền thông qua theo quy định về hoạt động của công ty chứng khoán, Điều lệ công ty và bao gồm các nội dung tối thiểu theo Mẫu tại Phụ lục số IV Thông tư 122/2025/TT-BTC. Tổ chức phát hành phải bố trí tối thiểu 01 nhân viên có chứng chỉ hành nghề phân tích tài chính hoặc chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ hoặc chứng chỉ phân tích tài chính bậc II (CFA level II) tại vị trí quản lý rủi ro liên quan đến hoạt động phát hành chứng quyền.
(iii) Sở giao dịch chứng khoán có trách nhiệm xây dựng và ban hành quy chế giám sát hoạt động phòng ngừa rủi ro của tổ chức phát hành sau khi đã được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận, trong đó bao gồm các hình thức xử lý vi phạm trong trường hợp tổ chức không tuân thủ phương án phòng ngừa rủi ro theo quy định tại Thông tư 122/2025/TT-BTC.
2. Tổ chức phát hành phải đảm bảo có đủ số lượng chứng khoán cơ sở để phòng ngừa rủi ro cho chứng quyền đang lưu hành theo Phương án đảm bảo thanh toán và phương án phòng ngừa rủi ro. Tổ chức phát hành phải ban hành Phương án đảm bảo thanh toán và phương án phòng ngừa rủi ro theo Mẫu tại Phụ lục số V Thông tư 122/2025/TT-BTC.
3. Tài sản ký quỹ tại ngân hàng lưu ký phải được ký quỹ trong suốt thờigian có hiệu lực của chứng quyền và cho đến khi tổ chức phát hành hoàn tất nghĩa vụ thanh toán đối với nhà đầu tư sở hữu chứng quyền. Giá trị tài sản ký quỹ phải duy trì tối thiểu là 50% giá trị chứng quyền đã phát hành, không tính số chứng quyền đã hủy bỏ niêm yết. Tài sản này không được dùng để cầm cố, thế chấp, làm tài sản bảo đảm cho các khoản vay hoặc các nghĩa vụ tài chính khác của tổ chức phát hành hay của bất cứ bên thứ ba khác.
4. Hoạt động phòng ngừa rủi ro được thực hiện trên tài khoản tự doanh của tổ chức phát hành. Hoạt động phòng ngừa rủi ro của tổ chức phát hành bao gồm các giao dịch mua, bán, vay và các giao dịch khác phù hợp với quy định pháp luật, bảo đảm hạn mức đầu tư chứng khoán cơ sở của tổ chức kinh doanh chứng khoán và bảo đảm các quy định sau:
(i) Chứng khoán trong giao dịch phòng ngừa rủi ro bao gồm chứng khoán cơ sở và các chứng khoán phát hành dựa trên chứng khoán cơ sở đó phù hợp với quy định pháp luật;
(ii) Chứng khoán dùng cho mục đích phòng ngừa rủi ro không được sử dụng để cầm cố, thế chấp, ký quỹ, cho vay hoặc làm tài sản bảo đảm;
(iii) Tổ chức phát hành có trách nhiệm quản lý, hạch toán độc lập danh mục chứng khoán phòng ngừa rủi ro và đáp ứng yêu cầu về mức độ phòng ngừa rủi ro theo quy chế của Sở giao dịch chứng khoán.
5. Tổ chức phát hành thực hiện phòng ngừa rủi ro để đảm bảo độ chênh lệch giữa vị thế phòng ngừa rủi ro lý thuyết và vị thế phòng ngừa rủi ro thực tế tại cuối ngày giao dịch không vượt quá 20%. Vị thế phòng ngừa rủi ro thực tế và vị thế phòng ngừa rủi ro lý thuyết của từng đợt phát hành được xác định theo quy định tại Điều 11 Thông tư 122/2025/TT-BTC.
6. Kể từ ngày niêm yết chứng quyền, hàng ngày tổ chức phát hành có trách nhiệm gửi báo cáo Sở giao dịch chứng khoán về hoạt động phòng ngừa rủi ro, bao gồm thông tin về vị thế phòng ngừa rủi ro thực tế và vị thế phòng ngừa rủi ro lý thuyết của từng chứng quyền theo quy chế của Sở giao dịch chứng khoán và chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của các số liệu trong báo cáo.
7. Sở giao dịch chứng khoán giám sát chênh lệch vị thế phòng ngừa rủi ro theo từng chứng quyền. Sở giao dịch chứng khoán có quyền yêu cầu tổ chức phát hành giải trình các thông số tính toán vị thế phòng ngừa rủi ro lý thuyết trường hợp xét thấy các thông số đó được đưa ra chưa hợp lý.
8. Trường hợp tổ chức phát hành không tuân thủ phương án phòng ngừa rủi ro, Sở giao dịch chứng khoán áp dụng các biện pháp xử lý như sau:
(i) Gửi thông báo yêu cầu tổ chức phát hành điều chỉnh vị thế phòng ngừa rủi ro thực tế nếu chênh lệch giữa vị thế phòng ngừa rủi ro lý thuyết và vị thế phòng ngừa rủi ro thực tế trên 20% trong vòng 03 ngày làm việc liên tục và không thuộc trường hợp quy định tại điểm (ii) dưới đây. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Sở giao dịch chứng khoán có thông báo, tổ chức phát hành phải thực hiện phòng ngừa rủi ro để giảm chênh lệch xuống bằng hoặc dưới 20%.
(ii) Yêu cầu tổ chức phát hành điều chỉnh vị thế phòng ngừa rủi ro thực tế hoặc nộp tiền tương ứng với phần chênh lệch giữa vị thế phòng ngừa rủi ro lý thuyết và vị thế phòng ngừa rủi ro thực tế tính theo giá đóng cửa của chứng khoán cơ sở tại ngày tính toán nếu chênh lệch này vượt quá 50% trong 03 ngày làm việc liên tục. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Sở giao dịch chứng khoán có thông báo yêu cầu, tổ chức phát hành phải điều chỉnh vị thế phòng ngừa rủi ro thực tế hoặc nộp khoản tiền này vào tài khoản tự doanh. Trường hợp tổ chức phát hành nộp tiền vào tài khoản tự doanh, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ nộp tiền vào tài khoản, tổ chức phát hành phải thực hiện điều chỉnh vị thế phòng ngừa rủi ro thực tế để giảm chênh lệch xuống bằng hoặc dưới 20%.
(iii) Cảnh báo trên toàn thị trường nếu tổ chức phát hành không thực hiện phòng ngừa rủi ro theo yêu cầu của Sở giao dịch chứng khoán nêu tại điểm (i) sau khi Sở giao dịch chứng khoán gửi thông báo yêu cầu đến lần thứ ba hoặc không thực hiện theo quy định tại điểm (ii).
(iv) Chứng quyền được đưa ra khỏi diện cảnh báo nếu tổ chức phát hành duy trì được mức chênh lệch giữa vị thế phòng ngừa rủi ro lý thuyết và vị thế phòng ngừa rủi ro thực tế không vượt quá 20% trong vòng 30 ngày giao dịch liên tục kể từ ngày cảnh báo hoặc tổ chức phát hành đã nộp tiền theo quy định tại điểm (ii).
9. Định kỳ hàng tháng, Sở giao dịch chứng khoán báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về các trường hợp quy định tại khoản 8.