Công văn 162/BTTP-CC,CT hướng dẫn Luật Công chứng 2024 về phân chia di sản

27/02/2026 10:20 AM

Bộ Tư pháp ban hành Công văn 162/BTTP-CC,CT hướng dẫn Luật Công chứng 2024 về phân chia di sản.

Công văn 162/BTTP-CC,CT hướng dẫn Luật Công chứng 2024 về phân chia di sản

Công văn 162/BTTP-CC,CT hướng dẫn Luật Công chứng 2024 về phân chia di sản

Tải về

Công văn 162/BTTP-CC,CT hướng dẫn Luật Công chứng 2024 về phân chia di sản

Theo Công văn 162/BTTP-CC,CT năm 2026, Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp nhận được Đơn phản ánh kiến nghị mã số PAKN: 1770205426254 của ông/bà về quy định của Luật Công chứng về phân chia di sản.

Hiện nay BLDS chỉ có khái niệm/thuật ngữ “phân chia di sản” được quy định tại “Chương XXIV THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN” và đặc điểm của khái niệm này chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp thừa kế có ít nhất 2 người trở lên. Và để đồng bộ với BLDS (là pháp luật về nội dung), các văn bản về công chứng, chứng thực (là pháp luật về hình thức) cũng chỉ quy định về việc phân chia đối với trường hợp thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật mà chỉ có 01 người thừa kế (khoản 5 điều 59 Luật công chứng) dẫn đến văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành như Thông tư số 05/2025/TT-BTP cũng chỉ có một mẫu lời chứng để nhận di sản dưới hình thức “phân chia” (mẫu số TP-CC-29). Việc thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật mà chỉ có 01 người thừa kế mà lập văn bản phân chia theo quan điểm của tôi là chưa phù hợp (ít nhất là theo Từ điển tiếng Việt). Bởi vì: Thứ nhất: Dưới góc độ pháp luật thì chủ thể của việc “phân chia di sản” phải có ít nhất 2 người trở lên, thể hiện ở việc mẫu số TP-CC-29 cố định chủ thể là “Các ông (bà)”, mà “các” (số nhiều) là phải có ít nhất 2 người trở lên. Thứ hai: Dưới góc độ giải thích “phân chia tài sản” khi xem nó là một động từ trong tiếng Việt thì nó được hiểu là “chia thành nhiều phần”, trong khi nếu một người hưởng di sản thì người đó được hưởng nguyên khối di sản đó chứ không được chia. Do đó, tôi cho rằng cần khôi phục quy định của Luật công chứng năm 2014 (cũ) về việc “khai nhận di sản” khi có trường hợp thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật mà chỉ có 01 người thừa kế. Được biết Bộ Tư pháp đang trong quá trình xây dựng dự thảo Luật công chứng (sửa đổi) nên tôi xin có ý kiến nêu trên.

Về vấn đề này, Cục Bổ trợ tư pháp có ý kiến như sau:

Luật Công chứng năm 2024 quy định về công chứng văn bản phân chia di sản (Điều 59), không quy định về việc công chứng văn bản khai nhận di sản như quy định tại Điều 58 Luật Công chứng năm 2014. Nội dung này đã được nghiên cứu trong quá trình xây dựng Luật Công chứng năm 2024. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, quy định này là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 vì Bộ luật Dân sự không có quy định về “khai nhận di sản” mà chỉ quy định về phân chia di sản và các vấn đề liên quan đến phân chia di sản (Điều 659, 660, 661, 662…). Luật Công chứng là luật quy định về trình tự, thủ tục công chứng; các vấn đề thuộc nội dung quy định pháp luật phải thực hiện theo các luật nội dung, bao gồm Bộ luật Dân sự. Do vậy, việc Luật Công chứng quy định về văn bản phân chia di sản là phù hợp, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Thứ hai, khoản 5 Điều 59 Luật Công chứng năm 2024 cũng đã có quy định: Thủ tục công chứng văn bản phân chia di sản theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này cũng áp dụng đối với trường hợp thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật mà chỉ có 01 người thừa kế.

Xem thêm tại Công văn 162/BTTP-CC,CT năm 2026.

Công chứng văn bản phân chia di sản

Theo Điều 59 Luật Công chứng 2024, việc công chứng văn bản phân chia di sản được quy định như sau:

1. Người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc có quyền yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sản.

Công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra, bảo đảm việc phân chia di sản được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Ngoài các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 42 hoặc khoản 1 Điều 43 của Luật Công chứng 2024, hồ sơ yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sản còn phải có các giấy tờ sau đây:

- Giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác theo quy định của pháp luật chứng minh người để lại di sản đã chết;

- Di chúc trong trường hợp thừa kế theo di chúc; giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản trong trường hợp thừa kế theo pháp luật và trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự;

- Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản trong trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu.

3. Công chứng viên kiểm tra để xác định người để lại di sản đúng là người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và những người yêu cầu công chứng đúng là người được hưởng di sản; nếu thấy chưa rõ thì công chứng viên yêu cầu làm rõ hoặc tiến hành xác minh, yêu cầu giám định theo quy định tại khoản 4 Điều 42 của Luật Công chứng.

4. Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm niêm yết việc tiếp nhận công chứng văn bản phân chia di sản. Công chứng viên chỉ được công chứng văn bản phân chia di sản sau khi có xác nhận về việc đã hoàn thành việc niêm yết và không nhận được khiếu nại, tố cáo nào liên quan đến việc phân chia đó.

Chính phủ quy định chi tiết thủ tục niêm yết việc tiếp nhận công chứng văn bản phân chia di sản quy định tại khoản này.

5. Thủ tục công chứng văn bản phân chia di sản theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 trên cũng áp dụng đối với trường hợp thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật mà chỉ có 01 người thừa kế.

6. Văn bản phân chia di sản đã được công chứng là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản.

Chia sẻ bài viết lên facebook 64

Các tin khác
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn
Đơn vị chủ quản: Công ty cổ phần LawSoft. Giấy phép số: 32/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 15/05/2019 Địa chỉ: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: 028 3935 2079