Hiện đang có 02 loại trợ cấp cho người cao tuổi quy định tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP và Nghị định 176/2025/NĐ-CP, cụ thể:
|
STT |
Đối tượng |
Mức hưởng/tháng |
|
1. TRỢ CẤP XÃ HỘI |
||
|
1 |
Người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng |
750.000 đồng |
|
2 |
Người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng |
1.500.000 đồng |
|
2. TRỢ CẤP HƯU TRÍ XÃ HỘI |
||
|
1 |
Người từ đủ 75 tuổi trở lên, không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng; hoặc đang hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng thấp hơn mức trợ cấp hưu trí mới |
500.000 đồng |
|
2 |
Người từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ và đáp ứng các điều kiện tương tự với người từ đủ 75 tuổi |
500.000 đồng |
|
Lưu ý: Mức trợ cấp hưu trí xã hội 500.000 đồng/tháng là mức tiêu chuẩn theo quy định. Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng cân đối ngân sách, huy động các nguồn lực xã hội, các tỉnh, thành có thể quyết định hỗ trợ thêm cho người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Hiện nay, nhiều địa phương đã có chính sách hỗ trợ thêm mức trợ cấp hưu trí xã hội, cao hơn mức tiêu chuẩn từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Trường hợp người cao tuổi vừa thuộc đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, vừa thuộc đối tượng hưởng chế độ hưu trí xã hội, thì được hưởng chế độ trợ cấp cao hơn. |
||

Mức trợ cấp cho người cao tuổi mới nhất 2026 (Hình từ internet)
Công dân Việt Nam được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội khi có đủ các điều kiện sau đây:
(i) Từ đủ 75 tuổi trở lên;
(ii) Không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng; hoặc đang hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng thấp hơn mức trợ cấp hưu trí quy định tại Nghị định 176/2025/NĐ-CP;
(iii) Có văn bản đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.
Công dân Việt Nam từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ và đáp ứng đủ điều kiện quy định tại điểm (ii) và (iii).
Cũng từ 01/7/2025, người đề nghị trợ cấp hưu trí xã hội có văn bản đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị định 176/2025/NĐ-CP gửi trực tiếp hoặc qua tổ chức bưu chính hoặc trên môi trường mạng đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu trực thuộc tỉnh, thành phố nơi cư trú (sau đây gọi chung là cấp xã).
![]() |
Mẫu số 01 |
* Đối với trợ cấp xã hội hàng tháng (Nghị định 20/2021/NĐ-CP)
Tùy theo khả năng cân đối của ngân sách, tốc độ tăng giá tiêu dùng và tình hình đời sống của đối tượng bảo trợ xã hội, cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội cho phù hợp; bảo đảm tương quan chính sách đối với các đối tượng khác.
Trước ngày 25 hàng tháng, cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ) căn cứ danh sách đối tượng thụ hưởng (bao gồm đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng tăng, giảm; đối tượng hưởng trợ cấp một lần); số kinh phí chi trả tháng sau (bao gồm cả tiền truy lĩnh và mai táng phí của đối tượng); số kinh phí còn lại chưa chi trả các tháng trước (nếu có) thực hiện rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước và chuyển vào tài khoản tiền gửi của tổ chức dịch vụ chi trả; đồng thời chuyển danh sách chi trả để tổ chức dịch vụ chi trả cho đối tượng thụ hưởng tháng sau. Trong thời gian chi trả, Bộ Nội vụ có trách nhiệm cử người giám sát việc chi trả của tổ chức thực hiện chi trả.
* Đối với trợ cấp hưu trí xã hội (Nghị định 176/2025/NĐ-CP)
Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng cân đối ngân sách, huy động các nguồn lực xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định hỗ trợ thêm cho người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.
Trước ngày 25 hằng tháng, Ủy ban nhân dân cấp xã căn cứ danh sách đối tượng thụ hưởng trên địa bàn; số kinh phí chi trả tháng sau (bao gồm cả tiền truy lĩnh và mai táng phí của đối tượng); số kinh phí còn lại chưa chi trả các tháng trước (nếu có) thực hiện rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước và chuyển vào tài khoản tiền gửi của tổ chức dịch vụ chi trả, đồng thời chuyển danh sách chi trả để tổ chức dịch vụ chi trả cho đối tượng thụ hưởng tháng sau. Trong thời gian chi trả, Ủy ban nhân dân cấp xã cử người giám sát việc chi trả của tổ chức thực hiện chi trả.