|
Tỉnh, thành phố |
Dân số trung bình năm 2025 (người) |
|
Thành phố Hồ Chí Minh |
13.800.000 |
|
Hà Nội |
8.860.000 |
|
Đồng Nai |
4.490.000 |
|
Hải Phòng |
4.150.000 |
|
Ninh Bình |
3.840.000 |
|
Thanh Hóa |
3.770.000 |
|
Phú Thọ |
3.700.000 |
|
Bắc Ninh |
3.570.000 |
|
Nghệ An |
3.450.000 |
|
Vĩnh Long |
3.400.000 |
|
Đồng Tháp |
3.400.000 |
|
Lâm Đồng |
3.360.000 |
|
Gia Lai |
3.180.000 |
|
Tây Ninh |
2.980.000 |
|
Đắk Lắk |
2.850.000 |
|
Hà Tĩnh |
1.340.000 |
|
Điện Biên |
670.000 |
|
Lai Châu |
500.000 |
<Tiếp tục cập nhật>
Số liệu được làm tròn đến hàng chục nghìn.
Dân số trung bình là dân số tính bình quân cho cả một thời kỳ.
Công thức tính:
- Nếu chỉ có số liệu tại hai thời điểm (đầu và cuối của thời kỳ ngắn, thường là một năm), sử dụng công thức:
Hình
Trong đó:
Pụ: Dân số trung bình;
Pọ: Dân số đầu kỳ;
P₁: Dân số cuối kỳ.
- Nếu có số liệu tại nhiều thời điểm cách đều nhau, sử dụng công thức:
Hình
Trong đó: Ptb: Dân số trung bình;
P0,1…n Dân số ở các thời điểm 0, 1,..., n;
n : Số thời điểm cách đều nhau.
- Nếu có số liệu tại nhiều thời điểm không cách đều nhau, sử dụng công thức:
Hình
Trong đó:
Ptb: Dân số trung bình;
Ptb1: Dân số trung bình của khoảng thời gian thứ nhất;
Ptb2 : Dân số trung bình của khoảng thời gian thứ 2;
Ptbn: Dân số trung bình của khoảng thời gian thứ n;
ti: Độ dài của khoảng thời gian thứ i.
(Theo Nghị định 94/2022/NĐ-CP)
Tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp để thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về công tác dân số để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng. Trong đó, cần đẩy mạnh phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới cung cấp dịch vụ dân số toàn diện về quy mô, cơ cấu, phân bố và nâng cao chất lượng dân số với các giải pháp: Củng cố, phát triển mạng lưới dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản; mạng lưới chăm sóc người cao tuổi; các loại hình câu lạc bộ rèn luyện sức khoẻ, giải trí của người cao tuổi; từng bước phát triển mạng lưới chuyên ngành lão khoa; triển khai có hiệu quả công tác phòng bệnh, nâng cao sức khoẻ bà mẹ, trẻ em và người dân.
Bảo đảm đủ nguồn lực đáp ứng yêu cầu triển khai toàn diện công tác dân số, nhất là đối với đối tượng chính sách, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo; đẩy mạnh xã hội hoá các dịch vụ dân số. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, chuẩn hoá đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, đáp ứng yêu cầu chuyển hướng sang dân số và phát triển; mở rộng hợp tác quốc tế về công tác dân số để tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính, tri thức, kinh nghiệm, kỹ thuật để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững về dân số…
Trước mắt, cần rà soát, bổ sung chính sách điều chỉnh mức sinh phù hợp; lồng ghép yếu tố dân số vào trong các chương trình, đề án phát triển kinh tế - xã hội của đơn vị, địa phương và toàn quốc để tạo động lực phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đẩy mạnh các chương trình tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị, tăng thời gian sử dụng lao động ở khu vực nông thôn. Mở rộng, nâng cao hiệu quả giáo dục, đào tạo, dạy nghề gắn với thị trường lao động.
Hoàn thành việc xây dựng, kết nối liên thông, thống nhất đồng bộ dữ liệu về con người (trên cơ sở dữ liệu gốc là cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư) để đánh giá chính xác biến động về dân số (cả về số lượng, chất lượng), phục vụ chính xác, kịp thời, hiệu quả công tác hoạch định chính sách dân số và phát triển.
Khẩn trương xây dựng và tổ chức thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khoẻ, dân số và phát triển giai đoạn 2026 - 2035.
Trong đó, nội dung chương trình phải thể hiện rõ được chiến lược toàn diện, mang tính dài hạn, có sự liên kết và rõ trách nhiệm giữa các bộ, ngành, địa phương; gắn kết yếu tố chăm sóc sức khoẻ, dân số và phát triển vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội để tạo ra tác động toàn diện; lựa chọn những nội dung cốt lõi, quan trọng đưa vào chương trình, tránh dàn trải, lãng phí nguồn lực; cần đề ra các chỉ tiêu, chỉ số cụ thể làm cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát, đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của chương trình.
Đồng thời, cùng với ngân sách nhà nước cần huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng để triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khoẻ, dân số và phát triển giai đoạn 2026 - 2035.
(Theo Kết luận 149-KL/TW năm 2025 đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới do Ban Chấp hành Trung ương ban hành)