Công văn giải đáp kiến nghị về hòa giải tranh chấp đất đai (Công văn 244/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ)

30/01/2026 16:14 PM

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có Công văn giải đáp kiến nghị về hòa giải tranh chấp đất đai (Công văn 244/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ).

Công văn giải đáp kiến nghị về hòa giải tranh chấp đất đai (Công văn 244/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ)

Công văn giải đáp kiến nghị về hòa giải tranh chấp đất đai (Công văn 244/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ)

Tải về

Công văn giải đáp kiến nghị về hòa giải tranh chấp đất đai (Công văn 244/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ)

Theo Công văn 244/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ Cục Quản lý đất đai được Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao nhiệm vụ  nghiên cứu, trả lời phản ánh, kiến nghị của Ông trên Hệ thống thông tin của Bộ Tư  pháp (Mã PAKN: 1767266574213). Về nội dung phản ánh kiến nghị này, Cục Quản  lý đất đai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời như sau: 

Nội dung phản ánh, kiến nghị

Điều 105 - Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai 1. Sự thiếu thống nhất, chồng  chéo trong cách hiểu và áp dụng các khái niệm "tranh chấp đất đai", "tranh chấp liên  quan đến đất đai" và tiêu chí xác định "đất đang có tranh chấp" giữa cơ quan hành  chính và cơ quan tư pháp. Mâu thuẫn trong phân loại tranh chấp:  

- Cơ quan tư pháp (Tòa án, Viện kiểm sát) căn cứ vào các văn bản hướng dẫn  chuyên ngành như Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng  Thẩm phán TAND Tối cao và Mục 5, chương 2, Công văn số 22/HD-VKSTC của  Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, xác định: tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là  "tranh chấp liên quan đến đất đai" – một dạng của tranh chấp dân sự về tài sản. Loại  tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết ban đầu của Tòa án, và việc hòa giải tại  UBND cấp xã không phải là điều kiện bắt buộc trước khi khởi kiện.  

- Cơ quan hành chính (UBND cấp xã) lại căn cứ vào định nghĩa tại khoản 47  Điều 3 Luật Đất đai 2024 ("Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của  người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai"), với cách diễn  giải rộng, cho rằng mọi tranh chấp về quyền sử dụng đất, kể cả tranh chấp thừa kế,  đều là "tranh chấp đất đai". Từ đó, họ cho rằng việc thụ lý một đơn yêu cầu hòa giải  (kể cả về thừa kế liên quan đến đất) đã đủ căn cứ để xác định "đất đang có tranh  chấp" và ngừng giải quyết các thủ tục hành chính liên quan như cấp Giấy chứng  nhận.  

Hệ quả của mâu thuẫn: Sự không thống nhất này tạo ra "khoảng trống pháp  lý" và "vùng xám" trong thực thi, dẫn đến hai hệ thống (hành chính và tư pháp) vận  hành theo hai hướng khác nhau, gây khó khăn cho công dân, làm giảm hiệu lực của  phán quyết tư pháp và gây ách tắc trong giải quyết thủ tục hành chính.  

2. Thiếu quy định rõ ràng về cơ chế xử lý và hậu quả pháp lý sau khi hòa giải  không thành, dẫn đến tình trạng "treo" hồ sơ vô thời hạn. 

Thực trạng vướng mắc: Hiện nay, pháp luật quy định UBND cấp xã có trách  nhiệm hòa giải đối với tranh chấp đất đai. Tuy nhiên, chưa có quy định cụ thể, ràng  buộc về trường hợp sau khi hòa giải không thành mà bên muốn tranh chấp không  tiếp tục thực hiện các thủ tục pháp lý tiếp theo (như khởi kiện ra Tòa án hoặc nộp  đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến UBND cấp có thẩm quyền).  

Hậu quả thực tiễn: Sự thiếu vắng quy định này tạo điều kiện cho việc lạm  dụng thủ tục hòa giải như một công cụ để cản trở. Một bên có thể nộp đơn yêu cầu  hòa giải, và ngay cả khi hòa giải không thành, họ không cần phải làm gì thêm. Trong  khi đó, cơ quan hành chính, với cách hiểu hiện hành, vẫn coi đây là "đất đang có  tranh chấp" và từ chối hoặc "treo" vô thời hạn hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận  quyền sử dụng đất của bên kia. Điều này khiến quyền lợi hợp pháp của người sử  dụng đất ổn định bị tổn hại nghiêm trọng, thủ tục hành chính bị ách tắc, và tranh  chấp thực chất không được giải quyết dứt điểm.  

Yêu cầu cấp thiết: Cần phải có quy định về một thời hạn xác định sau khi hòa  giải không thành. Nếu trong thời hạn đó, bên tranh chấp không chủ động khởi kiện  hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thì tình trạng "đất đang có tranh  chấp" phải được coi là chấm dứt. Khi đó, cơ quan hành chính có nghĩa vụ tiếp tục  giải quyết thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho bên đề nghị, trên cơ sở xác định không  còn căn cứ để từ chối. Quy định này nhằm bảo vệ người sử dụng đất hợp pháp, ngăn  chặn hành vi cản trở có chủ ý và buộc các bên tranh chấp phải tích cực bảo vệ quyền  lợi của mình theo đúng trình tự tố tụng. Việc tháo gỡ những vướng mắc nêu trên là  hết sức cần thiết để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu  quả giải quyết tranh chấp, và quan trọng nhất là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp  của công dân, tổ chức trong lĩnh vực đất đai.  

Các căn cứ pháp lý: Khoản 16 Điều 3, Khoản 47 Điều 3, Điều 151 Luật Đất  đai 2024; Khoản 2 Điều 34 Nghị định 101/2024/NĐ-CP của Chính phủ; Khoản 2  Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP; Mục 5, chương 2, Công văn số 22/HD VKSTC của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ngày 05/6/2020. 

Nội dung trả lời:  

Tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 235 Luật Đất đai năm 2024 về hòa giải tranh chấp  đất đai có quy định như sau: 

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải, hòa giải ở  cơ sở theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, hòa giải theo quy định của  pháp luật về hòa giải thương mại hoặc cơ chế hòa giải khác theo quy định của pháp  luật. 

2. Trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai  quy định tại Điều 236 của Luật này, các bên tranh chấp phải thực hiện hòa giải tại  Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp. Việc hòa giải tranh chấp đất đai tại  Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp 

.....

d) Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tham gia  hòa giải và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân  dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân  dân cấp xã nơi có đất tranh chấp; 

đ) Trường hợp hòa giải không thành mà một hoặc các bên tranh chấp không  ký vào biên bản thì Chủ tịch Hội đồng, các thành viên tham gia hòa giải phải ký vào  biên bản, đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã và gửi cho các bên tranh chấp. 

3. Hòa giải tranh chấp đất đai tại Tòa án được thực hiện theo quy định của  pháp luật về hòa giải, đối thoại tại Tòa án và pháp luật về tố tụng dân sự. Hòa giải  tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan tới đất đai bằng  hòa giải thương mại thực hiện theo pháp luật về hòa giải thương mại. 

4. Đối với trường hợp hòa giải tranh chấp đất đai quy định tại các khoản 1, 2  và 3 Điều này mà hòa giải thành và có thay đổi hiện trạng về ranh giới, diện tích,  người sử dụng đất thì trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản  công nhận kết quả hòa giải thành, các bên tham gia hòa giải phải gửi văn bản công  nhận kết quả hòa giải thành đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc  đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với  đất theo quy định. 

Đối với nội dung kiến nghị, đề xuất của Quý công dân: “Cần phải có quy định  về một thời hạn xác định sau khi hòa giải không thành….tháo gỡ những vướng mắc  nêu trên là hết sức cần thiết để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật,  nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp, và quan trọng nhất là bảo vệ quyền và lợi  ích hợp pháp của công dân, tổ chức trong lĩnh vực đất đai” Cục Quản lý đất đai sẽ  nghiên cứu, rà soát, tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, hoàn thiện trong  thời gian tới. 

Chia sẻ bài viết lên facebook 11

Các tin khác
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn
Đơn vị chủ quản: Công ty cổ phần LawSoft. Giấy phép số: 32/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 15/05/2019 Địa chỉ: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: 028 3935 2079