Chính phủ ban hành Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026. Trong đó đã đề ra chủ đề, quan điểm, trọng tâm chỉ đạo điều hành năm 2026.
Cụ thể, một trong những nhiệm vụ về chú trọng phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm an sinh xã hội được Chính phủ giao là tiếp tục hoàn thiện quy định trong lĩnh vực tiền lương, bảo hiểm xã hội, lao động, quan hệ lao động;
Triển khai hiệu quả các Kết luận của Bộ Chính trị về cải cách chính sách tiền lương, phụ cấp đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang sau sắp xếp tổ chức bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
Tăng cường kết nối cung cầu, phát triển thị trường lao động; làm tốt công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam. Thực hiện hiệu quả các chính sách, chương trình, đề án hỗ trợ giải quyết việc làm; chú trọng giải quyết việc làm cho thanh niên, lao động yếu thế và lao động nữ.
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; chuyển dịch nhanh lao động có việc làm phi chính thức sang việc làm chính thức, hỗ trợ lao động di cư từ nông thôn ra thành thị, các khu công nghiệp và lao động vùng biên, người dân tộc thiểu số. Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động.
Nâng cao hiệu quả các tổ chức dịch vụ việc làm; đầu tư phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm công lập. Đẩy mạnh công tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; ổn định, duy trì các thị trường truyền thống, mở rộng thị trường có thu nhập cao; năm 2026, đưa khoảng 112 nghìn người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Theo dõi, nắm thông tin về lao động làm việc ở nước ngoài để kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh.
Xem thêm chi tiết tại Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2026.

Tiếp tục hoàn thiện quy định về tiền lương, bảo hiểm xã hội, lao động trong năm 2026 (Hình từ internet)
Ngày 05/01/2026, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) đã có Báo cáo 01/BC-CTK về tình hình kinh tế - xã hội Quý IV và năm 2025.
Theo nội dung tại Báo cáo 01/BC-CTK, thu nhập bình quân của lao động quý IV/2025 là 8,7 triệu đồng/tháng, tăng 323 nghìn đồng so với quý III/2025 và tăng 508 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2024.
Trong đó, thu nhập bình quân tháng của lao động nam là 9,8 triệu đồng/tháng, lao động nữ là 7,4 triệu đồng/tháng; thu nhập bình quân của lao động ở khu vực thành thị là 10,4 triệu đồng/tháng, khu vực nông thôn là 7,6 triệu đồng/tháng.
Tính chung năm 2025, thu nhập bình quân của lao động là 8,4 triệu đồng/tháng, tăng 8,9%, tương ứng tăng 685 nghìn đồng so với năm trước. Trong đó, thu nhập bình quân của lao động nam là 9,5 triệu đồng/tháng, lao động nữ là 7,2 triệu đồng/tháng; thu nhập bình quân của lao động ở khu vực thành thị là 10,1 triệu đồng/tháng, khu vực nông thôn là 7,3 triệu đồng/tháng.
Cũng theo Báo cáo của Cục Thống kê, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2025 là 2,22%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,51%; khu vực nông thôn là 2,02%.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) năm 2025 là 8,64%, tăng 0,72 điểm phần trăm so với năm trước. Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 11,23%, tăng 1,71 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 7,09%, tăng 0,08 điểm phần trăm.
Năm 2025, tình hình thu nhập và đời sống của hộ dân cư được cải thiện. Công tác an sinh xã hội tiếp tục được các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương quan tâm thực hiện.
Theo kết quả sơ bộ Khảo sát mức sống dân cư năm 2025, thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành năm 2025 đạt khoảng 5,9 triệu đồng/người/tháng, tăng 9,3% so với năm 2024. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2025 khoảng 1,3%, giảm 1,0 điểm phần trăm so với năm 2024.
Theo báo cáo điều tra lao động và việc làm hằng tháng, trong tháng Mười Hai tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập không thay đổi và tăng lên so với năm trước là 95,9%, (giảm 0,5 điểm phần trăm so với kỳ báo cáo tháng 11/2025 và giảm 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết là 4,1%.