
Lương net là gì? Lương net là gì? Phân biệt lương net và lương gross (Hình từ Internet)
Hiện nay, Bộ luật Lao động 2019 nói riêng và các văn bản quy phạm pháp luật khác nói chung không có quy định cụ thể về khái niệm lương Net là gì?. Tuy nhiên thuật ngữ này lại được sử dụng thường xuyên trong môi trường doanh nghiệp, nhìn chung đây chỉ là tên gọi cho mức lương trả cho người lao động.
Lương net là tiền lương thực nhận mà người lao động được công ty trả hàng tháng sau khi đã trừ hết các loại khoản chi phí bảo hiểm, thuế thu nhập cá nhân.
Lương net được tính như sau:
Lương Net = Lương Gross - (Tiền đóng bảo hiểm bắt buộc + Thuế TNCN (nếu có))
Trong đó: Lương Gross là tổng thu nhập mỗi tháng người lao động nhận được, gồm lương cơ bản, trợ cấp, phụ cấp, hoa hồng, v.vv.. mà chưa trừ thuế cá nhân, phí công đoàn hay bảo hiểm xã hội.
Việc lựa chọn nhận lương theo lương gross hay lương net không làm thay đổi mức thu nhập thực tế của người lao động. Tuy nhiên việc lựa chọn nhận lương gross và lương net sẽ tồn tại những ưu điểm và nhược điểm sau đây:
|
|
Lương Gross |
Lương net |
|
|
Ưu điểm |
Người lao động có thể chủ động tính toán đối với mức lương thực nhận của mình |
Người lao động được nhận đúng số tiền đã thỏa thuận với người sử dụng lao động. Các khoản bảo hiểm, thuế TNCN sẽ do người sử dụng lao động tự trích ra và thanh toán. |
|
|
Nhược điểm |
Người lao động cần chủ động tính toán các khoản bảo hiểm mà mình đã đóng |
Các quyền lợi về bảo hiểm của người lao động có thể thấp hơn mức quy định vì người sử dụng lao động có quyền quyết định mức đóng trong trường hợp này |
|
Căn cứ Điều 97 Bộ luật Lao động 2019 quy định về kỳ hạn trả lương như sau:
- Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần.
- Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ.
- Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
- Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.