Ngày 26/2/2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân (sau đây gọi là Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT).
Theo Điều 6 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT đã quy định quyền và nghĩa vụ của người được cấp văn bằng, chứng chỉ như sau:
(1) Người được cấp văn bằng, chứng chỉ có các quyền sau đây:
- Được người có thẩm quyền: cấp văn bằng, chứng chỉ đúng thời hạn quy định; ghi chính xác, đầy đủ các thông tin trên văn bằng, chứng chỉ; cấp lại văn bằng, chứng chỉ hoặc chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ theo quy định tại Quy chế này;
- Được cơ quan có thẩm quyền cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc;
- Tra cứu văn bằng, chứng chỉ đã được cấp trên cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ.
(2) Người được cấp văn bằng, chứng chỉ có các nghĩa vụ sau đây:
- Cung cấp chính xác, đầy đủ các thông tin dữ liệu cá nhân cơ bản, cần thiết để cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ ghi nội dung trên văn bằng, chứng chỉ và cập nhật vào cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ;
- Kiểm tra tính chính xác các thông tin ghi trên văn bằng, chứng chỉ trước khi ký nhận văn bằng, chứng chỉ giấy hoặc khi nhận được văn bằng, chứng chỉ số;
- Phải có giấy ủy quyền theo quy định của pháp luật cho người nhận văn bằng, chứng chỉ khi không trực tiếp đến nhận văn bằng, chứng chỉ;
- Giữ gìn, bảo quản văn bằng, chứng chỉ; không được tẩy xóa, sửa chữa các nội dung trên văn bằng, chứng chỉ; không được cho người khác sử dụng văn bằng, chứng chỉ;
- Sử dụng quyết định chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ kèm theo văn bằng, chứng chỉ sau khi được chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ;
- Trình báo cho cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ và cơ quan công an nơi gần nhất khi bị mất văn bằng, chứng chỉ;
- Nộp lại văn bằng, chứng chỉ cho cơ quan có thẩm quyền thu hồi văn bằng, chứng chỉ trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi văn bằng, chứng chỉ. Trường hợp văn bằng, chứng chỉ có quyết định thu hồi nhưng bị mất, phải cam kết bằng văn bản về việc bị mất văn bằng, chứng chỉ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung cam kết.
Quy định tại điểm b khoản 1 và điểm c, điểm e, điểm g khoản 2 Điều 6 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT chỉ áp dụng đối với văn bằng, chứng chỉ giấy.

Quyền và nghĩa vụ của người được cấp văn bằng, chứng chỉ giáo dục từ 15/4/2026 (Hình từ internet)
Theo khoản 1 Điều 2 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT:
Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân là văn bản thể hiện dưới dạng giấy hoặc số được cấp cho người học khi tốt nghiệp trung học phổ thông; người học hoàn thành chương trình giáo dục, chương trình đào tạo và đạt chuẩn đầu ra của trình độ tương ứng trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học theo quy định của Luật Giáo dục 2019 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục số 123/2025/QH15, Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15).
Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm:
(1) Bằng tốt nghiệp trung học phổ thông;
(2) Bằng trung học nghề;
(3) Bằng trung cấp;
(4) Bằng cao đẳng;
(5) Bằng cử nhân;
(6) Bằng thạc sĩ;
(7) Bằng tiến sĩ;
(8) Văn bằng chương trình đào tạo chuyên sâu của một số ngành, lĩnh vực đặc thù.
Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT cũng quy định về văn bằng, chứng chỉ giấy; văn bằng, chứng chỉ số như sau:
- Văn bằng giấy, chứng chỉ giấy (sau đây gọi chung là văn bằng, chứng chỉ giấy) là văn bằng, chứng chỉ được cấp dưới dạng văn bản giấy;
- Văn bằng số, chứng chỉ số (sau đây gọi chung là văn bằng, chứng chỉ số) là văn bằng, chứng chỉ được cấp dưới dạng kỹ thuật số từ cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc của cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ nếu được phân cấp (sau đây gọi chung là cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ);
- Văn bằng, chứng chỉ giấy và văn bằng, chứng chỉ số có giá trị pháp lý như nhau.
Trên đây là các loại văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT, có hiệu lực từ ngày 15/04/2026.