
Hướng dẫn về vận chuyển giao nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước (Hình từ Internet)
Ngày 28/02/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 63/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.
Theo Điều 6 Nghị định 63/2026/NĐ-CP quy định về vận chuyển giao nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước như sau:
(1) Việc vận chuyển tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước (trừ vận chuyển qua dịch vụ bưu chính) được quy định như sau:
- Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được chứa, đựng trong thiết bị và bảo quản bằng vật liệu phù hợp, bảo đảm không bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển;
- Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được vận chuyển bằng phương tiện, thiết bị bảo đảm an toàn do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý bí mật nhà nước quy định;
- Người được giao nhiệm vụ vận chuyển có trách nhiệm bảo vệ tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước trong suốt quá trình vận chuyển.
(2) Việc giao tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi được quy định như sau:
- Trước khi giao tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi phải đăng ký vào “Số đăng ký bí mật nhà nước đĩ" hoặc bằng Hệ thống quản lý văn bản điện từ bí mật nhà nước. Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi độ “Tuyệt mật" không được ghi trích yếu;
- Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi phải làm bì hoặc đóng gói riêng. Giấy làm bị phải dùng loại giấy dai, bền, khó thấm nước, không nhìn thấu qua được, hồ dán phải dính, khó bóc; ngoài bì đóng dấu chữ "A" hoặc "B" hoặc "C" tương ứng với độ mật cao nhất của tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước bên trong.
Trường hợp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi gửi đích danh người có trách nhiệm giải quyết phải đóng dấu “Chỉ người có tên mới được bóc bì".
(3) Việc nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến được quy định như sau:
- Sau khi nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến phải đăng ký vào “Sổ đăng ký bí mật nhà nước đến" hoặc bằng Hệ thống quản lý văn bản điện từ bí mật nhà nước. Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến độ “Tuyệt mật" không được ghi trích yếu và chỉ được mở bì khi người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu của cơ quan, tổ chức tiếp nhận bí mật nhà nước cho phép;
- Trường hợp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến mà phong bì có dấu “Chỉ người có tên mới được bóc bì", người nhận vào số theo ký hiệu ngoài bì, không được mở bì và phải chuyển đến người có tên trên phong bì. Nếu người có tên trên phong bì đi vắng và trên phong bì có thêm dấu “Hỏa tốc” thì chuyển đến người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức giải quyết,
- Trường hợp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được gửi đến mà không thực hiện đúng quy định về bảo vệ bí mật nhà nước thì chuyển đến người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước hoặc người có tên trên phong bì (đối với trường hợp gửi đích danh) giải quyết, đồng thời phải thông báo nơi gửi biết để có biện pháp khắc phục;
- Trường hợp phát hiện tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước gửi đến có dấu hiệu bóc, mở bì hoặc bị tráo đổi, mất, hư hỏng thì bên giao và bên nhận phải lập biên bản ghi nhận sự việc, báo cáo người có thẩm quyền của bên giao, bên nhận biết, đồng thời, thông báo cho bên gửi về việc tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước gửi đến có dấu hiệu bóc, mở bì hoặc bị tráo đổi, mất, hư hỏng để phối hợp giải quyết.
(4) Việc giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước (trừ trường hợp gửi, nhận văn bản điện tử bí mật nhà nước) được quy định như sau:
- Trường hợp giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi được thực hiện tại “Sổ đăng ký bị mật nhà nước đi" hoặc "Số chuyển giao bí mật nhà nước";
- Trường hợp giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến được thực hiện tại “Số đăng ký bị mật nhà nước đến” hoặc “Số chuyển giao bí mật nhà nước";
- Trường hợp giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước với số lượng lớn được thực hiện bằng Biên bản giao nhận. Nội dung Biên bản giao nhận phải thể hiện thông tin bên giao, bên nhận; số lượng tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phân loại theo từng mức độ mặt; tỉnh trạng tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước tại thời điểm giao, nhận; danh sách tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước kèm theo Biên bản giao nhận (số, ký hiệu; ngày, tháng năm ban hành; cơ quan, tổ chức ban hành, trích yếu, độ mặt);
- Bên giao và bên nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải đổi chiều về số lượng, kiểm tra việc đóng bì, đóng gói tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước. Trường hợp phát hiện thiếu số lượng, sai sót trong đóng bì, đóng gói thì bên nhận yêu cầu bên giao gửi bổ sung, xử lý trước khi vào sổ theo dõi và ký nhận.
(5) Việc gửi, nhận văn bản điện tử bí mật nhà nước được quy định như sau:
- Văn bản điện từ bí mật nhà nước phải được cấp số, thời gian ban hành, tạo dấu chỉ độ mặt màu đỏ trước khi gửi bằng chức năng của Hệ thống quản lý văn bản điện từ bí mật nhà nước (trừ văn bản điện tử bí mật nhà nước được số hóa);
- Văn bản điện tử bí mật nhà nước (trừ văn bản điện tử bí mật nhà nước được số hóa) phải được ký bằng chữ ký số của người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, tổ chức;
- Máy tính dùng để gửi, nhận văn bản điện từ bí mật nhà nước không được kết nối với mạng máy tính (trừ mạng LAN độc lập), mạng Internet, mạng viễn thông, trừ trường hợp thực hiện theo quy định pháp luật về cơ yếu hoặc quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Bên gửi có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi, bảo đảm tính toàn vẹn của văn bản điện tử bí mật nhà nước và được gửi đến đúng bên nhận;
- Khi nhận văn bản điện tử bí mật nhà nước, bên nhận phải kiểm tra tính toàn vẹn của văn bản, số lượng văn bản, số trang của mỗi văn bản, tài liệu đính kèm (nếu có), đóng dấu văn bản điện từ bị mật nhà nước đến và đăng ký bằng Hệ thống quản lý văn bản điện tử bị mật nhà nước,
Trường hợp phát hiện sai sót, không bảo đảm yêu cầu quy định tại khoản này, bên nhận phải kịp thời phản hồi thông qua Hệ thống quản lý văn bản điện tử bí mật nhà nước để bên gửi biết, xử lý theo quy định hoặc báo cáo người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức bên nhận giải quyết.
(6) Văn bản điện tử bí mật nhà nước khi in ra để giao, nhận phải đóng dấu “Bản in văn bản điện tử bí mật nhà nước" trên văn bản theo mẫu quy định tại Nghị định này. Bản in văn bản điện tử bí mật nhà nước được thực hiện đúng theo quy định tại Nghị định này có giá trị pháp lý như bản gốc, bản chính văn bản bí mật nhà nước.
(7) Trường hợp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đăng ký bằng “Số đăng ký bí mật nhà nước điện từ" và Hệ thống quản lý văn bản điện từ bí mật nhà nước phải bảo đảm đầy đủ nội dung theo mẫu "Số đăng ký bí mật nhà nước đi", “Số đăng ký bí mật nhà nước đến". Máy tính dùng để đăng ký tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước không được kết nối với mạng máy tính (trừ mạng LAN độc lập), mạng Internet, mạng viễn thông, trừ trường hợp thực hiện theo quy định pháp luật về cơ yếu và quy định khác của pháp luật có liên quan.
(8) Trường hợp tài liệu bí mật nhà nước có đóng dấu “Tài liệu thu hồi" (trừ quy định tại Điều 4 Nghị định này), cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã nhận tài liệu bí mật nhà nước phải gửi lại đúng thời hạn ghi trên tài liệu cho cơ quan, tổ chức chủ trì.
(9) Việc chuyển, giao, nhận điện mặt, sản phẩm mật mã để bảo vệ thông tin bí mật nhà nước thực hiện theo quy định pháp luật về cơ yếu.
(10) Mẫu số đăng ký bí mật nhà nước đi, mẫu số đăng ký bí mật nhà nước đến, mẫu số chuyển giao bí mật nhà nước, mẫu dấu kí hiệu độ mặt, mẫu dầu tài liệu thu hồi, mẫu dấu chỉ người có tên mới được bóc bì, mẫu dấu bản in văn bản điện từ bí mật nhà nước và mẫu dấu văn bản điện tử bí mật nhà nước đến thực hiện theo quy định tại Phụ lục III Nghị định 63/2026/NĐ-CP.