Ngày 9/3/2026, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã dự Hội nghị tiếp xúc cử tri với người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, nhiệm kỳ 2026-2031, tại đơn vị bầu cử số 01, tỉnh Lào Cai.
Phó Thủ tướng cho biết, thời gian tới, các cơ quan chức năng đang tiến hành tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 27 để báo cáo cấp có thẩm quyền về lộ trình cải cách tiền lương giai đoạn tiếp theo.
Trước mắt, dự kiến từ 1/7/2026, tạm thời điều chỉnh mức lương cơ sở tăng khoảng 8%, đồng thời gắn với việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp người có công, hỗ trợ, trợ cấp đối với các đối tượng bảo trợ xã hội và hỗ trợ, trợ cấp hưu trí xã hội.
Như vậy, dự kiến từ 1/7/2026, tạm thời điều chỉnh mức lương cơ sở tăng khoảng 8% (từ mức 2,34 triệu đồng), tương ứng với việc tăng lương cơ sở năm 2026 lên 2,527 triệu đồng.
Lương cơ sở ngoài việc dùng để làm căn cứ chi trả tiền lương và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang thì còn dùng làm căn cứ tính mức hưởng các khoản trợ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội.
Do đó, khi tăng lương cơ sở năm 2026 thì những khoản trợ cấp dưới đây dự kiến cũng sẽ tăng theo:
- Trợ cấp dưỡng sức sau ốm đau.
- Trợ cấp 1 lần khi sinh con.
- Mức dưỡng sức sau thai sản.
- Trợ cấp 1 lần khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Trợ cấp hằng tháng khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Trợ cấp phục vụ cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Trợ cấp 1 lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Mức dưỡng sức sau điều trị do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp.
- Trợ cấp mai táng.
- Trợ cấp tuất hằng tháng.
Ngoài ra, còn có nhiều khoản tiền (mức đóng, mức hưởng) khác cũng sẽ điều chỉnh tăng theo mức lương cơ sở dự kiến mới. Sau năm 2026 khi bỏ lương cơ sở, các khoản trợ cấp trên sẽ được tính dựa trên mức tham chiếu.

Những khoản trợ cấp sẽ tăng khi tăng lương cơ sở năm 2026 lên 8% (dự kiến)?(Hình từ internet)
Dưới đây là chi tiết các mức lương cơ sở đã được điều chỉnh trong 30 năm qua:
Lần 1 từ 1/1/1995 đến hết 12/1996: Mức 120.000 đồng/tháng;
Lần 2 từ 1/1/1997 đến hết 12/1999: Mức 144.000 đồng/tháng;
Lần 3 từ 1/1/2000 đến hết 12/2000: Mức 180.000 đồng/tháng;
Lần 4 từ 1/1/2001 đến hết 12/2003: Mức 210.000 đồng/tháng;
Lần 5 từ 1/10/2004 đến hết tháng 9/2005: Mức 290.000 đồng/tháng;
Lần 6 từ 1/10/2005 đến hết tháng 9/2006: Mức 350.000 đồng/tháng;
Lần 7 từ 1/10/2006 đến hết tháng 12/2007: Mức 450.000 đồng/tháng;
Lần 8 từ 1/1/2008 đến hết tháng 4/2009: Mức 540.000 đồng/tháng;
Lần 9 từ 1/5/2009 đến hết tháng 4/2010: Mức 650.000 đồng/tháng;
Lần 10 từ 1/5/2010 đến hết tháng 4/2011: Mức 730.000 đồng/tháng;
Lần 11 từ 1/5/2011 đến hết tháng 4/2012: Mức 830.000 đồng/tháng;
Lần 12 từ 1/5/2012 đến hết tháng 6/2013: Mức 1.050.000 đồng/tháng;
Lần 13 từ 1/7/2013 đến hết tháng 4/2016: Mức 1.150.000 đồng/tháng;
Lần 14 từ 1/5/2016 đến hết tháng 6/2017: Mức 1.210.000 đồng/tháng;
Lần 15 từ 1/7/2017 đến hết tháng 6/2018: Mức 1.300.000 đồng/tháng;
Lần 16 từ 1/7/2018 đến hết tháng 6/2019: Mức 1.390.000 đồng/tháng;
Lần 17 từ 1/7/2019 đến hết tháng 6/2023: Mức 1.490.000 đồng/tháng;
Lần 18 từ 1/7/2023 đến hết tháng 6/2024: Mức 1.800.000 đồng/tháng.
Lần 19 từ 1/7/2024 đến nay: 2.340.000 đồng/tháng.
Tại Kết luận 83-KL/TW năm 2024, Bộ Chính trị đã có yêu cầu Ban Kinh tế Trung ương chủ trì sơ kết việc thực hiện Nghị quyết 27-NQ/TW năm 2018, trong đó phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ và các ban, bộ, ngành có liên quan nghiên cứu đánh giá sự phù hợp, tính khả thi và đề xuất việc thực hiện 5 bảng lương và 9 chế độ phụ cấp mới của khu vực công cho phù hợp để trình Trung ương xem xét sau năm 2026 khi Bộ Chính trị ban hành và triển khai thực hiện hệ thống Danh mục vị trí việc làm trong hệ thống chính trị.
Trong đó, một trong những yếu tố cụ thể để thiết kế bảng lương mới là: Bãi bỏ mức lương cơ sở và hệ số lương hiện nay, xây dựng mức lương cơ bản bằng số tiền cụ thể trong bảng lương mới.
Như vậy, rất có thể lần tăng lương cơ sở từ 1/7/2026 là lần điều chỉnh cuối trước khi cải cách tiền lương, khi đó sẽ áp dụng 5 bảng lương và 9 chế độ phụ cấp mới.