Trong Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 403/NQ-CP năm 2025, Bộ Tài chính sẽ đề xuất xây dựng biện pháp bắt buộc tham gia BHXH đối với người lao động bán thời gian có thời gian làm việc dưới 01 tháng.
Cụ thể ngày 16/3/2026, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định 472/QĐ-BTC về Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 403/NQ-CP ngày 10/12/2025 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đến năm 2030.
Tại đây, Bộ Tài chính đã nêu ra những nhiệm vụ và giải pháp sẽ thực hiện trong Kế hoạch này, cụ thể gồm:
- Triển khai các hoạt động thông tin, tuyên truyền hàng năm theo hướng đẩy mạnh các hình thức, phương thức truyền thông hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin chuyển đổi số. Tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động chăm sóc khách hàng, tư vấn, giải đáp chính sách, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện các thủ tục hành chính về BHXН.
- Thống nhất nội dung, phương pháp, thời gian và triển khai thực hiện chia sẻ các thông tin liên quan đến cá nhân hưởng tiền lương, thu nhập trong doanh nghiệp, tổ chức chi trả thu nhập khi kê khai, tính, nộp và quyết toán thuế thu nhập cá nhân; thông tin hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế, thông tin đăng ký thành lập doanh nghiệp, thành lập hợp tác xã, đăng ký hộ kinh doanh; thông tin trạng thái doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh để khai thác, phát triển và quản lý đối tượng tham gia BHXH đầy đủ, kịp thời.
- Đề xuất xây dựng thể chế, cơ chế chính sách BHXH để người lao động có thu nhập và tiền lương phải tham gia BHXH và biện pháp bắt buộc tham gia BHXH đối với những người lao động có thu nhập theo hình thức tự tạo việc làm, chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh không có đăng ký kinh doanh, người lao động làm việc theo hình thức bán thời gian có thời gian làm việc dưới 01 tháng.
- Đảm bảo bố trí đủ kinh phí và thực hiện chuyển đầy đủ, kịp thời về quỹ BHXH các khoản kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia BHXH tự nguyện theo quy định, không để tồn đọng.
Nghiên cứu đề xuất hỗ trợ thêm kinh phí đóng BHXH tự nguyện đối với các nhóm người đã tham gia và nhóm người tham gia mới theo lộ trình.
- Tiếp tục rà soát đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyền đổi số; không yêu cầu người dân, doanh nghiệp nộp thành phần hồ sơ khi đã được chia sẻ thông tin dữ liệu; tăng cường việc sử dụng các dịch vụ công trực tuyến.
- Đẩy mạnh các hoạt động kiểm tra, theo hướng kiểm tra tính tuân thủ và quản lý rủi ro thông qua việc sàng lọc thông tin, dữ liệu. Xử lý nghiêm hành vi trốn đóng, gian lận, trục lợi quỹ BHXH.
- Định kỳ sơ kết, nhân rộng các mô hình, cách làm hay hiệu quả; biểu dương, khen thưởng kịp thời các đơn vị, cá nhân thực hiện tốt.
Xem nội dung chi tiết tại Quyết định 472/QĐ-BTC năm 2026.

Dự kiến người lao động bán thời gian dưới 01 tháng sẽ bắt buộc tham gia BHXH (Hình từ Internet)
Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024, những người lao động thuộc các trường hợp sau đây phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc:
[1] Đối với người lao động là công dân Việt Nam:
(i) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên;
(ii) Cán bộ, công chức, viên chức;
(iii) Công nhân và viên chức quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;
(iv) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
(v) Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ công an nhân dân; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;
(vi) Dân quân thường trực;
(vii) Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2020, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác;
(viii) Vợ hoặc chồng không hưởng lương từ ngân sách nhà nước được cử đi công tác nhiệm kỳ cùng thành viên cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài được hưởng chế độ sinh hoạt phí;
(ix) Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã 2023 có hưởng tiền lương;
(x) Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố;
(xi) Đối tượng quy định tại (i) làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất;
(xii) Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh tham gia theo quy định của Chính phủ;
(xiii) Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã 2023 không hưởng tiền lương.
[2] Đối với người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Cụ thể, người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam, trừ các trường hợp sau đây:
- Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam;
- Tại thời điểm giao kết hợp đồng lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 Bộ luật Lao động 2019;
- Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.