Chương trình Giáo dục công dân 2018 (hay Giáo dục kt&pl) được hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT. Còn Chương trình môn Giáo dục công dân 2006 được ban hành tại Quyết định 16/2006/QĐ-BGDĐT.
|
AIGiaoDuc - Giáo dục Công dân - Kinh tế & Pháp luật nơi những bài học GDCD, KT&PL bước khỏi trang sách đi vào đời sống. Link truy cập: https://aigiaoduc.thuvienphapluat.vn/ Quét QR để truy cập website
|
Giữa 02 Chương trình này có 1 số điểm khác nhau cơ bản sau đây:
|
Tiêu chí |
GDCD CT 2006 |
GDCD CT 2018 |
|
Tên môn |
Môn Giáo dục công dân được dạy từ lớp 1 đến lớp 12 của trường phổ thông. Song, do đặc điểm lứa tuổi học sinh Tiểu học và mục tiêu môn học ở Tiểu học, nên từ lớp 1 đến lớp 5, môn học được gọi là môn Đạo đức. |
Giáo dục công dân (môn Đạo đức ở cấp tiểu học, môn Giáo dục công dân ở cấp trung học cơ sở, môn Giáo dục kinh tế và pháp luật ở cấp trung học phổ thông) |
|
Vị trí |
Môn Giáo dục công dân giữ vai trò chủ chốt trong việc giáo dục cho học sinh ý thức và hành vi của người công dân, góp phần hình thành và phát triển ở các em những phẩm chất và năng lực cần thiết của người công dân trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Môn Giáo dục công dân có vai trò quan trọng trong việc phát triển tâm lực - một thành tố cơ bản của nhân cách và là nội lực của sự phát triển nhân cách học sinh. Do vậy, môn học này góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo học sinh thành những người lao động mới đáp ứng được những đòi hỏi của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại. |
Giáo dục công dân giữ vai trò chủ đạo trong việc giúp học sinh hình thành, phát triển ý thức và hành vi của người công dân. Thông qua các bài học về lối sống, đạo đức, pháp luật, kinh tế, môn Giáo dục công dân góp phần bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi của người công dân, đặc biệt là tình cảm, niềm tin, nhận thức, cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật, có kĩ năng sống và bản lĩnh để học tập, làm việc và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.
|
|
Mục tiêu |
Môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông nhằm giúp học sinh: 1. Về kiến thức - Có hiểu biết ban đầu về thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng. - Biết được bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện pháp luật, hoạch định chính sách và quản lí kinh tế. - Hiểu đường lối, quan điểm của Đảng; các chính sách quan trọng của Nhà nước về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. - Hiểu các giá trị đạo đức, pháp luật cơ bản và lối sống của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. - Hiểu trách nhiệm công dân trong việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; hiểu trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tham gia phát triển kinh tế của công dân. 2. Về kĩ năng - Vận dụng được kiến thức đã học để phân tích, đánh giá các hiện tượng, các sự kiện, các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống phù hợp với lứa tuổi. - Biết lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội. - Biết bảo vệ cái tốt, cái đúng, cái đẹp và đấu tranh, phê phán đối với các hành vi, hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống phù hợp với khả năng của bản thân. 3. Về thái độ - Yêu cái tốt, cái đúng, cái đẹp; không đồng tình với các hành vi, việc làm tiêu cực. - Yêu quê hương, đất nước. Trân trọng và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc. - Tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng; tôn trọng các chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định chung của cộng đồng. - Có ước mơ và mục đích sống cao đẹp. |
Chương trình môn Giáo dục công dân góp phần hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm;các năng lực của người công dân Việt Nam, đặc biệt là năng lực điều chỉnh hành vi, năng lực phát triển bản thân, năng lực tìm hiểu và tham gia hoạt động kinh tế - xã hội,nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới. Đồng thời, chia ra mục tiêu cụ thể với từng cấp học (Xem chi tiết tại CT GDPT 2018) |
|
Quan điểm |
1. Chương trình môn Giáo dục công dân được xây dựng dựa trên các môn khoa học cơ bản như: Triết học, Đạo đức học, Luật học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học,... và các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Môn Giáo dục công dân còn tích hợp nhiều nội dung giáo dục xã hội cần thiết cho các công dân trẻ tuổi như: giáo dục quyền trẻ em, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục văn hóa hòa bình, giáo dục môi trường, giáo dục giới tính - sức khỏe sinh sản vị thành niên, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng tránh HIV/AIDS,... Tuy nhiên, việc tích hợp phải hợp lí, phù hợp với đặc trưng môn học và không làm nặng thêm nội dung môn học. 2. Quá trình dạy học môn Giáo dục công dân là quá trình khai thác tiềm năng và phát triển tâm lực học sinh, phát triển tính tích cực hoạt động nhận thức và năng lực tự hoàn thiện của học sinh. 3. Nội dung môn Giáo dục công dân hướng học sinh vươn tới những giá trị cơ bản của người công dân Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó là những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong sự hòa nhập với tinh hoa văn hóa nhân loại, thể hiện sự thống nhất giữa tính truyền thống với tính hiện đại. Chương trình môn Giáo dục công dân từ Tiểu học đến Trung học cơ sở, Trung học phổ thông đảm bảo tính hệ thống, tính phát triển của các giá trị; đáp ứng được mục tiêu của cấp học, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng nhận thức của học sinh. 4. Chương trình môn Giáo dục công dân đảm bảo cân đối, hài hòa giữa yêu cầu trang bị kiến thức với việc rèn luyện kĩ năng và phát triển thái độ tích cực cho học sinh. Môn Giáo dục công dân không những trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, phù hợp với lứa tuổi học sinh về thế giới quan khoa học và nhân sinh quan tiến bộ; về các giá trị đạo đức pháp luật, lối sống mà còn hình thành và phát triển ở các em những tình cảm, niềm tin, những hành vi và thói quen phù hợp với những giá trị đã học; giúp cho học sinh có sự thống nhất cao giữa ý thức và hành vi. 5. Nội dung môn Giáo dục công dân gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực tiễn của học sinh, gắn liền với các sự kiện trong đời sống đạo đức, pháp luật, kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương, của đất nước. Vì vậy, ngoài nội dung thống nhất chung cho cả nước, chương trình còn có phần "mở" để dạy các vấn đề cần quan tâm của địa phương. |
Chương trình môn Giáo dục công dân tuân thủ các định hướng nêu trong Chương trình tổng thể, đồng thời, xuất phát từ đặc điểm môn học, nhấn mạnh các quan điểm sau: 1. Chương trình môn Giáo dục công dân bảo đảm tính khoa học, tính sư phạm và tính thực tiễn, được xây dựng trên cơ sở: đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các thành tựu nghiên cứu về tâm lí học, giáo dục học, đạo đức học, luật học, lí luận chính trị và kinh tế học; kinh nghiệm trong nước và quốc tế về phát triển chương trình môn Giáo dục công dân; các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam và giá trị chung của nhân loại; thực tiễn xã hội, giáo dục, điều kiện kinh tế và truyền thống văn hoá Việt Nam, sự đa dạng của đối tượng học sinh xét về phương diện vùng miền, điều kiện và khả năng học tập. 2. Chương trình môn Giáo dục công dân bảo đảm tính hệ thống. Ở giai đoạn giáo dục cơ bản, nội dung môn Đạo đức (cấp tiểu học) và môn Giáo dục công dân (cấp trung học cơ sở) được xây dựng theo hướng đồng tâm và phát triển,dựa trên các mạch nội dung giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, kinh tế, pháp luật và xoay quanh các mối quan hệ của con người với bản thân và người khác, với cộng đồng, đất nước, nhân loại, công việc và môi trường tự nhiên; mở rộng và nâng cao dần từ cấp tiểu học đến cấp trung học cơ sở. Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, nội dung môn Giáo dục kinh tế và pháp luật (cấp trung học phổ thông) được xây dựng theo hướng phát triển tuyến tính, xoay quanh các quan hệ kinh tế và pháp luật, từ kinh tế vĩ mô đến kinh tế vi mô, từ hệ thống chính trị và pháp luật đến quyền và nghĩa vụ công dân. 3. Chương trình môn Giáo dục công dân chú trọng tích hợp các nội dung giáo dục trong nội bộ môn học về kĩ năng sống, đạo đức, pháp luật, kinh tế và tích hợp nhiều chủ đề giáo dục cần thiết như: môi trường, bình đẳng giới, di sản văn hoá, phòng chống tệ nạn xã hội, tài chính,... Những nội dung này gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực tiễn của học sinh, gắn liền với các sự kiện có tính thời sự trong đời sống đạo đức, pháp luật, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của địa phương, đất nước và thế giới. 4. Chương trình môn Giáo dục công dân được xây dựng theo hướng mở. Chương trình chỉ quy định những yêu cầu cần đạt; những nội dung dạy học cơ bản, cốt lõi cho mỗi cấp học, lớp học nhằm đáp ứng yêu cầu cần đạt; những định hướng chung về phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục. Căn cứ vào các yêu cầu cần đạt và định hướng chung của chương trình, các tác giả sách giáo khoa, cơ sở giáo dục và giáo viên môn Giáo dục công dân chủ động, sáng tạo trong quá trình thực hiện và phát triển chương trình. |
|
Đánh giá về nội dung |
Được xây dựng theo từng chủ đề riêng biệt (đạo đức, pháp luật, kinh tế) ít có sự liên kết, tích hợp các môn học khác hoặc với thực tiễn. |
Được tích hợp, lồng ghép giữa kiến thức và các tình huống, vấn đề thực tiễn. Học sinh được học thông qua các ví dụ, câu chuyện và các vấn đề xã hội gần gũi. |
|
Phương pháp dạy học |
- Dạy học môn Giáo dục công dân là nhằm chuyển các giá trị xã hội thành nhận thức, tình cảm, niềm tin và hành vi tích cực ở học sinh. Muốn vậy, dạy học Giáo dục công dân phải là quá trình tổ chức, hướng dẫn cho học sinh hoạt động, phân tích, khai thác các thông tin, sự kiện, các tình huống thực tiễn, các trường hợp điển hình,... để thông qua đó, các em có thể tự phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới, phát triển kĩ năng và thái độ tích cực. - Phương pháp và hình thức dạy học môn Giáo dục công dân rất phong phú, đa dạng; bao gồm cả các phương pháp hiện đại (như: đóng vai, thảo luận nhóm, trò chơi, giải quyết vấn đề, động não, dự án,...) và các phương pháp truyền thống (như: diễn giảng, kể chuyện, đàm thoại, nêu gương,...); bao gồm cả hình thức dạy học theo lớp, theo nhóm nhỏ và cá nhân; hình thức học ở trong lớp, ngoài lớp và ngoài trường. Mỗi phương pháp và hình thức dạy học trên đều có mặt mạnh và hạn chế riêng; phù hợp với từng đối tượng, lứa tuổi học sinh, từng loại bài Giáo dục công dân riêng. Vì vậy, giáo viên không nên lạm dụng hoặc xem nhẹ một phương pháp hay hình thức dạy học nào. Điều quan trọng là cần căn cứ vào nội dung, tính chất từng bài; căn cứ vào trình độ học sinh và năng lực, sở trường của giáo viên; căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng lớp, từng trường, từng địa phương mà lựa chọn và sử dụng kết hợp các phương pháp, hình thức dạy học một cách hợp lí, đúng mức. |
Môn Giáo dục công dân hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất và năng lực của người công dân thông qua các bài học về lối sống, đạo đức, pháp luật, kinh tế, nghĩa là chuyển các giá trị văn hoá, đạo đức, các kiến thức pháp luật, kinh tế thành ý thức và hành vi của người công dân. Do vậy, giáo viên phải có phương pháp giáo dục phù hợp, cụ thể là: 1. Chú trọng tổ chức, hướng dẫn các hoạt động để học sinh khám phá, phân tích, khai thác thông tin, xử lí tình huống thực tiễn, trường hợp điển hình; tăng cường sử dụng các thông tin, tình huống, trường hợp của thực tế cuộc sống xung quanh, gần gũi với đời sống học sinh trong việc phân tích, đối chiếu, minh hoạ để các bài học vừa có sức hấp dẫn, vừa nhẹ nhàng, hiệu quả; coi trọng tổ chức các hoạt động trải nghiệm để học sinh tự phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới, phát triển kĩ năng và thái độ tích cực, trên cơ sở đó hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực của người công dân tương lai. 2. Kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp dạy học hiện đại theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học; tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù của môn học như: giải quyết vấn đề, phân tích trường hợp điển hình kết hợp nêu những tấm gương công dân tiêu biểu; xử lí tình huống có tính thời sự về đạo đức, pháp luật và kinh tế trong cuộc sống hằng ngày; thảo luận nhóm; đóng vai; dự án;... 3. Kết hợp các hình thức dạy học theo hướng linh hoạt, phù hợp, hiệu quả: dạy học theo lớp, theo nhóm và cá nhân; dạy học ở trong lớp và ở ngoài lớp, ngoài khuôn viên nhà trường; tăng cường thực hành, rèn luyện kĩ năng trong các tình huống cụ thể của đời sống; tích cực sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại nhằm đa dạng, cập nhật thông tin, tạo hứng thú cho học sinh. 4. Phối hợp giáo dục trong nhà trường với giáo dục ở gia đình và xã hội. |
|
Đánh giá kết quả |
- Đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục công dân của học sinh phải toàn diện về tất cả các mặt: kiến thức, kĩ năng và thái độ. - Hình thức đánh giá: Đối với học sinh Tiểu học là nhận xét, đối với học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông là cho điểm kết hợp với nhận xét. - Cần kết hợp giữa đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, kết hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì. - Việc đánh giá cần thông qua nhiều con đường: kiểm tra miệng, kiểm tra viết, qua các sản phẩm hoạt động của học sinh, qua quan sát các hoạt động học tập và hoạt động thực tiễn của học sinh trong cuộc sống hằng ngày. |
Đánh giá kết quả giáo dục là đánh giá mức độ đạt được của học sinh về phẩm chất và năng lực so với các yêu cầu cần đạt của mỗi lớp học, cấp học nhằm xác định vị trí và ghi nhận sự tiến bộ của mỗi học sinh tại thời điểm nhất định trong quá trình phát triển của bản thân;đồng thời cung cấp thông tin để giáo viên điều chỉnh việc dạy học và cơ quan quản lí giáo dục thực hiện phát triển chương trình. Đánh giá kết quả giáo dục phải bảo đảm các yêu cầu sau: 1. Kết hợp đánh giá thông qua các nhiệm vụ học tập (bài kiểm tra dưới dạng trắc nghiệm, vấn đáp hoặc tự luận, bài tập thực hành, bài tiểu luận, bài thuyết trình, bài tập nghiên cứu, dự án nghiên cứu,...) với đánh giá thông qua quan sát biểu hiện về thái độ, hành vi của học sinh trong quá trình tham gia các hoạt động học tập được tổ chức trên lớp học, hoạt động nhóm, tập thể hay cộng đồng và trong sinh hoạt, giao tiếp hằng ngày. Chú trọng sử dụng các bài tập xử lí tình huống được xây dựng trên cơ sở gắn kiến thức của bài học với thực tiễn đời sống, đặc biệt là những tình huống, sự việc, vấn đề, hiện tượng của thực tế cuộc sống xung quanh, gần gũi với học sinh. Tăng cường các câu hỏi mở gắn với thực tiễn trong các bài tập kiểm tra, đánh giá để học sinh được thể hiện phẩm chất và năng lực. Việc đánh giá thông qua quan sát biểu hiện về thái độ, hành vi ứng xử của học sinh trong quá trình tham gia vào các hoạt động học tập, sinh hoạt ở trường, ở nhà và ở cộng đồng cần dựa trên phiếu nhận xét của giáo viên, học sinh, gia đình hoặc các tổ chức xã hội. 2. Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng của học sinh, đánh giá của phụ huynh học sinh và đánh giá của cộng đồng, trong đó đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất; coi trọng đánh giá sự tiến bộ của học sinh. 3. Kết quả đánh giá sau mỗi học kì và cả năm học đối với mỗi học sinh là kết quả tổng hợp đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. |
Trên đây là nội dung “So sánh Chương trình Giáo dục công dân 2018 và 2006”.