
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có Công văn 940/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ ngày 31/3/2026 hướng dẫn thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận sử dụng đất đã chuyển nhượng
Công văn hướng dẫn thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận sử dụng đất đã chuyển nhượng (Công văn 940/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ)
Cục Quản lý đất đai nhận được phản ánh của Ông Nguyễn Việt Hùng tại hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Luật Đất đai năm 2024, với các nội dung như sau:
“Căn cứ khoản 4 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 quy định: "4. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại Điều 136 của Luật này không thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này nếu người được cấp giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Việc xử lý thiệt hại do việc cấp giấy chứng nhận tại khoản này thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án. Người có hành vi vi phạm bị xử lý theo quy định tại Điều 239 và Điều 240 của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan".
Theo quy định trên thì cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận không được thu hồi giấy chứng nhận nếu như người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp cho người thứ ba.
Đọc hiểu ngữ nghĩa của điều luật trên thì quy định này chỉ áp dụng với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận. Vậy thì Tòa án trong bản án hành chính hoặc bản án dân sự của mình có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận thu hồi giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp này không? Hay quy định này chỉ áp dụng đối với cơ quan hành chính nhà nước thôi và Tòa án có thể tuyên bản án thu hồi các giấy chứng nhận bị cấp sai theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 đã được chuyển nhượng hợp pháp cho người thứ ba?”.
Liên quan đến nội dung phản ánh, kiến nghị Cục Quản lý đất đai có ý kiến như sau:
Tại khoản 2 Điều 152 quy định 06 trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp, trong đó điểm d khoản 2 Điều 152 quy định:
“2. Nhà nước thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây: …
d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm cấp giấy chứng nhận;”.
Khoản 4 Điều 152 Luật Đất đai quy định: “4. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại Điều 136 của Luật này không thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này nếu người được cấp giấy
chứng nhận đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Việc xử lý thiệt hại do việc cấp giấy chứng nhận tại khoản này thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án. Người có hành vi vi phạm bị xử lý theo quy định tại Điều 239 và Điều 240 của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Tại khoản 5 Điều 152 Luật Đất đai quy định: “5. Việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án đã được thi hành hoặc văn bản kiến nghị của cơ quan thi hành án về việc thi hành bản án, quyết định theo quy định của pháp luật, trong đó có nội dung yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận đã cấp”.
Căn cứ các quy định nêu trên, đối với các trường hợp phải thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp do Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm cấp giấy chứng nhận nhưng người sử dụng đất đã thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận không thực hiện việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp.
Đối với Giấy chứng nhận đã cấp không thuộc 06 trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 mà có bản án hoặc quyết định của Tòa án đã được thi hành hoặc văn bản kiến nghị của cơ quan thi hành án về việc thi hành bản án, quyết định theo quy định của pháp luật, trong đó có nội dung yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận đã cấp thì cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp theo quy định tại khoản 5 Điều 152 Luật Đất đai.