
Các nội dung sửa đổi tại Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP (Hình ảnh từ Internet)
Ngày 16/3/2026, Bộ Y tế đã ban hành Công văn 1705/BYT-ATTP về việc báo cáo đánh giá và các giải pháp xử lý các vướng mắc, bất cập của Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP.
![]() |
Công văn 1705/BYT-ATTP |
Tại Công văn 1705/BYT-ATTP năm 2026, Bộ Y tế (cơ quan thường trực Ban chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm) thay mặt các Bộ ngành báo cáo Thường trực Chính phủ về việc xử lý vướng mắc của Nghị định 46/2026/NĐ-CP (Nghị định 46) và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP (Nghị quyết 66.13) về an toàn thực phẩm.
Theo Công văn 1705/BYT-ATTP năm 2026, tính đến ngày 13/03/2026, Bộ Y tế đã nhận được văn bản phản hồi từ 25 bộ, ngành/địa phương và 40 hiệp hội/doanh nghiệp đại sứ quán các nước. Tất cả các ý kiến của hiệp hội, doanh nghiệp đã được tiếp thu tối đa; tuy nhiên đối với nội dung đã trao đổi, góp ý trong quá trình xây dựng Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP đã được các Bộ, ngành tiếp thu giải trình trong quá trình hoàn thiện dự thảo Nghị định và Nghị quyết. Qua rà soát, trao đổi với các Bộ, cơ quan liên quan, làm việc với hiệp hội doanh nghiệp, với chủ trương tiếp tục kiên trì quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về siết chặt quản lý, đảm bảo an toàn thực phẩm bảo đảm tốt nhất cho sức khỏe nhân dân. Trên cơ sở ý kiến thống nhất của các Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương và các Bộ ngành liên quan; Bộ Y tổng hợp, cụ thể như sau:
* Nghị định 46/2026/NĐ-CP
Tiến hành sửa đổi 15 Điều trên tổng 55 Điều, bằng 27,3% (Điều 19 đến Điều 25; Điều 17; Điều 31; Điều 43 ; Điều 45, 46, 47; Điều 51 và Điều 54), tập trung chủ yếu sửa đổi nội dung vướng mắc về kiểm tra nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực Nông nghiệp và các nội dung còn lại tạo điều kiện thông thoáng cho doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo việc quản lý an toàn thực phẩm, cụ thể:
(1) Kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu (Điều 19 đến Điều 25):
Việc thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu chỉ thực hiện đối với những sản phẩm chưa kiểm soát được tiêu chuẩn chất lượng, an toàn đối với sản phẩm cuối cùng; Trên cơ sở đề xuất của các Bộ ngành, Bộ Y tế tổng hợp hướng xử lý như sau:
- Bổ sung miễn kiểm tra nhà nước về thực phẩm nhập khẩu đổi với: (1) nguyên liệu sản xuất nội bộ chỉ sử dụng cho sản xuất của doanh nghiệp, (2) Hàng hóa nhập khẩu gửi qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh có trị giá hải quan được miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế; hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ và hàng hóa mua bản giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp trong khu phi thuế quan.
Lý do: Các sản phẩm cuối cùng đã được kiểm soát chỉ tiêu chất lượng và an toàn thông qua công bố tiêu chuẩn áp dụng và đăng ký bản công bố hoặc không lưu hành trên thị trưởng. Theo quy định tại Điều 22 Nghị định 85/2019/NĐ-CP quy định thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thì hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ và hàng hóa nhập khẩu gửi qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh được miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm và sắp tới Nghị định này sẽ bãi bỏ các trường hợp miễn kiểm tra nhà nước mà đưa vào pháp luật chuyên ngành.
- Chấp nhận Phiếu kết quả kiểm nghiệm nước ngoài đổi với lô sản phẩm nhập khẩu đã được cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm thay vì lấy mẫu kiểm nghiệm chỉ tiêu chất lượng, an toàn thực phẩm. Lý do: Tiêu chuẩn và phương pháp kiểm nghiệm đã được kiểm soát tại bộ hồ sơ đăng ký bản công bố sản phẩm.
- Hướng dẫn kiểm tra nhà nước đối với lô hàng thuộc quản lý của hai Bộ ngành trở lên (Ủy ban nhân dân cấp tinh giao một cơ quan kiểm tra nhà nước thuộc một trong các lĩnh vực y tế, công thương, hoặc nông nghiệp thực hiện đảm bảo một đầu mỗi). Đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn chính thức về việc phân cấp cho UBND tỉnh.
- Ngoài ra đối với những sản phẩm dễ bị hư hỏng (hải sản, rau, củ, quả...). lô hàng vửa thuộc diện kiểm dịch động, thực vật và kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm, phân cấp kiểm tra nhà nước cho Uy ban nhân dân cấp tỉnh: nội dung này Bộ Y tế chưa nhận được văn bản chính thức của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Do vậy đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn nội dung này.
(2) Bổ sung trường hợp không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đổi với các cơ sở áp dụng hệ thống sản xuất tiên tiến (Điều 17).
(3) Ghi nhãn thực phẩm (Điều 31):
Nội dung "2. Riêng đối với sản phẩm nhập khẩu, tên tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi trên nhãn sản phẩm phải thể hiện: tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất và tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân công bố sản phẩm." gây hiểu nhầm chỉ áp dụng cho sản phẩm nhập khẩu.
(4) Truy xuất nguồn gốc thực phẩm (Điều 43):
Điều chỉnh theo hướng linh hoạt và phù hợp với thực tiễn đổi với quy định doanh nghiệp phải thường xuyên thiết lập, lưu trữ đầy đủ thông tin về sản phẩm, nguyên liệu, bán thành phẩm, cơ sở sản xuất, cơ sở cung cấp, phân phối và khách hàng dưới dạng cơ sở dữ liệu, đồng thời kết nối với hệ thống cơ sở dữ liệu của co quan nhà nước có thẩm quyền.
(5) Trách nhiệm thi hành (Điều 45, 46, 47 và 51):
Tiếp thu tiếp tục thực hiện rà soát nội dung Điều 45, 46, 47 Nghị định 46/2026/NĐ-CP với Điều 62, 63, 64 Luật An toàn thực phẩm đảm bảo phù hợp về chức năng nhiệm vụ của các Bộ. Rà soát nội dung tại Điều 51 nội dung liên quan đến thẩm quyền kiểm tra nhà nước trong lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường, Y tế và Công thương tại Nghị định 46/2026/NĐ-CP, Nghị định 136/2025/NĐ-CP và Nghị định 148/2025/NĐ-CР.
(6) Điều khoản chuyển tiếp (Điều 54):
Để tạo điều kiện cho doanh nghiệp và đảm bảo thống nhất trong quá trình triển khai thực hiện :
- Bổ sung điều khoản chuyển tiếp đối với hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước, chỉ định cơ sở kiểm nghiệm, hồ sơ quảng cáo sản phẩm chuyển từ tự công bỏ sang đăng ký bản công bố, việc ghi nhận sản phẩm trước thời điểm Nghị định có hiệu lực thi hành và các trưởng hợp thay đổi hồ sơ tự công bố sau khi Nghị định có hiệu lực thi hành.
- Kéo dài thời gian hiệu lực chỉ định đối với cơ quan kiểm tra nhà nước do các bộ, ngành chỉ định.
* Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP:
Căn cứ Nghị quyết 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật của Quốc hội. Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP được xây dựng để giải quyết các bất cập do Luật An toàn thực phẩm năm 2010 chưa phù hợp thực tế và thông lệ quốc tế.
Tiến hành sửa đổi 02 Điều trên tổng 16 Điều, bằng 12,5% (Điều 1 và 4), tiếp tục tập trung tháo gỡ những vướng mắc và tạo điều kiện thông thoáng cho doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo quản lý an toàn thực phẩm, cụ thể:
(1) Công bố hợp quy:
Theo quy định tại Điều 12, 17, 18, khoản 1 Điều 38 Luật ATTP năm 2010, yêu cầu các sản phẩm thực phẩm phải đăng ký bản công bố hợp quy và không quy định trưởng hợp miễn đăng ký bản công bố hợp quy. Vì vậy, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp, bổ sung nội dung miễn đăng ký bản công bố hợp quy đối với một số trường hợp không tiêu thụ tại thị trưởng
(2) Mẫu Phiếu kết quả kiểm nghiệm:
Để huy động sự tham gia của các phòng thử nghiệm đạt chuẩn của nước ngoài, bổ sung nội dung quy định tối thiểu của Phiếu kết quả kiểm nghiệm, thay vì quy định mẫu cố định của Phiếu để công nhận kết quá của các phòng kiểm nghiệm nước ngoài đạt chuẩn.
Xem thêm Công văn 1705/BYT-ATTP ban hành ngày 16/3/2026.