
Nhiệm vụ và quyền hạn của UBND cấp xã trong thi hành án dân sự theo Luật Thi hành án dân sự 2025 (Hình từ Internet)
Quốc hội thông qua Luật Thi hành án dân sự 2025 số 106/2025/QH15, có hiệu lực từ 01/7/2026.
Theo đó, Luật quy định rõ nhiệm vụ quyền hạn của UBND cấp xã trong thi hành án dân sự, bao gồm:
- Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên trong việc vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án, thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên địa bàn;
- Giải quyết kịp thời những kiến nghị, vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật;
- Cung cấp thông tin, điều kiện thi hành án theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;
- Tham gia và phối hợp tổ chức cưỡng chế thi hành án trên địa bàn theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên;
- Tham gia Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự; tiếp nhận, xử lý vật chứng, tài sản sung quỹ nhà nước và bảo quản tài sản theo quy định của Luật Thi hành án dân sự 2025;
Đồng thời, Luật Thi hành án dân sự 2025 bổ sung các quy định về Văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên.
Theo Bộ Tư pháp, những quy định về Văn phòng thi hành án dân sự và Thừa hành viên là nội dung quan trọng, thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ công tác thi hành án dân sự theo chủ trương xã hội hóa một số hoạt động thi hành án dân sự. Trên cơ sở đó, Luật đã dành mục 2 Chương II quy định về Thừa hành viên và Văn phòng thi hành án dân sự với những nội dung chính như sau:
- Đổi tên Thừa phát lại thành Thừa hành viên và đổi tên Văn phòng Thừa phát lại thành Văn phòng thi hành án dân sự để bảo đảm tính phổ thông, dễ hiểu hơn, phù hợp với phạm vi, tính chất hoạt động thi hành án dân sự của tổ chức này. Văn phòng thi hành án dân sự và Thừa hành viên vẫn được thực hiện các hoạt động khác như quy định hiện hành về Thừa phát lại (Các hoạt động: lập vi bằng, tống đạt giấy tờ…). Luật cũng quy định điều khoản chuyển tiếp đối với tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, bảo đảm việc đổi tên không ảnh hưởng đến hoạt động của các văn phòng Thừa phát lại, không phát sinh chi phí liên quan.
- Văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự; không có thẩm quyền tổ chức thi hành các vụ việc thi hành án chủ động, thu hồi tiền, tài sản cho Nhà nước mà các nhiệm vụ này vẫn do cơ quan thi hành án dân sự thực hiện.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn: Thừa phát lại tiếp tục được thực hiện 04 thủ tục về thi hành án theo Nghị định số 08/2020/NĐ-CP; mở rộng thẩm quyền của Thừa phát lại về 04 thủ tục khác. Đồng thời, Thừa phát lại được đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện phong toả tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.
Xem thêm tại Luật Thi hành án dân sự 2025 số 106/2025/QH15, có hiệu lực từ 01/7/2026.