
Trình tự thẩm quyền miễn giảm tiền thuê đất từ ngày 31/01/2026 (Hình từ Internet)
Ngày 31/01/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 50/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
Theo khoản 19 Điều 13 Nghị định 50/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 41 Nghị định 103/2024/NĐ-CP về trình tự, thủ tục, thẩm quyền miễn, giảm tiền thuê đất như sau:
- Trường hợp được miễn tiền thuê đất cho cả thời gian thuê thì không thực hiện thủ tục xác định giá đất, tính tiền thuê đất được miễn theo quy định tại khoản 3 Điều 157 Luật Đất đai 2024. Người sử dụng đất được miễn tiền thuê đất không phải thực hiện thủ tục đề nghị miễn tiền thuê đất.
+ Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm và được miễn tiền thuê đất một số năm theo quy định tại Điều 39 Nghị định 103/2024/NĐ-CP (hoặc được trừ kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức quy đổi thành số năm, tháng hoàn thành nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất) thì trước thời điểm hết thời hạn được miễn tiền thuê đất (hoặc thời điểm kết thúc thời gian hoàn thành nghĩa vụ tài chính do được trừ kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư) tối thiểu 06 tháng, người sử dụng đất phải đi làm thủ tục kê khai nộp tiền thuê đất theo quy định tại Nghị định 103/2024/NĐ-CP. Trường hợp người sử dụng đất chậm làm thủ tục kê khai nộp tiền thuê đất theo quy định thì phải nộp số tiền thuê đất truy thu hằng năm theo chính sách và giá đất của từng năm; đồng thời, phải nộp số tiền tương đương tiền chậm nộp tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về quản lý thuế tính trên số tiền thuê đất phải nộp đối với thời gian chậm làm thủ tục kê khai nộp tiền thuê đất.
+ Văn phòng đăng ký đất đai hoặc bộ phận một cửa liên thông hoặc cơ quan ký hợp đồng BT (trong trường hợp giao đất, cho thuê đất để thanh toán hợp đồng BT) hoặc cơ quan, người có thẩm quyền được giao nhiệm vụ lập Phiếu chuyển thông tin phải chuyển Phiếu chuyển thông tin sang cơ quan thuế để tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định tại Điều 42 và 43 Nghị định 103/2024/NĐ-CP.
- Trường hợp được miễn tiền thuê đất một số năm, người thuê đất nộp hồ sơ đề nghị miễn tiền thuê đất theo cơ chế một cửa liên thông. Văn phòng đăng ký đất đai hoặc bộ phận một cửa liên thông hoặc cơ quan ký hợp đồng BT (trong trường hợp giao đất, cho thuê đất để thanh toán hợp đồng BT) hoặc cơ quan, người có thẩm quyền được giao nhiệm vụ lập Phiếu chuyển thông tin; trong đó có thông tin về: giá đất tính tiền thuê đất, đối tượng, diện tích, thời gian được miễn tiền thuê đất; chuyển Phiếu chuyển thông tin cho người sử dụng đất và cơ quan thuế để theo dõi và thực hiện thủ tục tính tiền thuê đất trả tiền thuê hằng năm khi hết thời gian được miễn hoặc để cơ quan thuế tính và thông báo tiền thuê đất nộp một lần cho cả thời gian thuê sau khi trừ đi thời gian được miễn tiền thuê đất một số năm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 37 Nghị định 103/2024/NĐ-CP.
- Trường hợp được giảm tiền thuê đất thì người thuê đất phải nộp hồ sơ đề nghị giảm tiền thuê đất theo cơ chế một cửa liên thông. Văn phòng đăng ký đất đai hoặc bộ phận một cửa liên thông hoặc cơ quan ký hợp đồng BT (trong trường hợp giao đất, cho thuê đất để thanh toán hợp đồng BT) hoặc cơ quan, người có thẩm quyền được giao nhiệm vụ lập Phiếu chuyển thông tin; trong đó ngoài nội dung về thông tin địa chính, có thông tin về: giá đất tính tiền thuê đất, đối tượng, diện tích, mức giảm tiền thuê đất; chuyển Phiếu chuyển thông tin cho người sử dụng đất và cơ quan thuế. Cơ quan thuế tính số tiền thuê đất được giảm, số tiền thuê đất phải nộp và ban hành Thông báo thu tiền thuê đất theo quy định.