
Điểm mới Quy chế văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân theo Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT (Hình từ Internet)
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT về Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân, có hiệu lực từ 15/04/2026.
Để học tốt chương trình mới và nắm chắc các thay đổi tại Quy chế văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục, học sinh cần nhiều hơn một công cụ tra cứu – cần một người bạn đồng hành thông minh.
AI Giáo dục là nơi giúp học sinh học tập hiệu quả và phát triển tư duy phản biện, đặc biệt với các môn như Giáo dục công dân, Giáo dục kinh tế và pháp luật. Không chỉ giải thích khái niệm khô khan, AI còn phân tích tình huống thực tế, liên hệ quy định pháp luật mới, đặt câu hỏi gợi mở để học sinh hiểu bản chất vấn đề thay vì học thuộc lòng.
Từ việc tìm hiểu về văn bằng, chứng chỉ số, quyền và nghĩa vụ của người học, đến các kiến thức kinh tế – pháp luật gắn với đời sống, AI Giáo dục giúp bài học trở nên sinh động, dễ hiểu và sát thực tiễn. Học không chỉ để thi – mà để hiểu, để vận dụng và để tự tin bước vào tương lai.
Tại đây có hệ thống đầy đủ các để thi của các môn Giáo dục Công dân - Kinh tế & Pháp luật giúp người học tham khảo. Qua đó tự hệ thống được kiến thức trong bài học, cải thiện điểm số cho mình.
|
Giáo dục Công dân - Kinh tế & Pháp luật nơi những bài học GDCD, KT&PL bước khỏi trang sách đi vào đời sống. Link truy cập: https://aigiaoduc.thuvienphapluat.vn/ Quét QR để truy cập website
|
Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân Gồm các điểm mới sau:
Bỏ bằng tốt nghiệp cấp 2 ra khỏi hệ thống giáo dục quốc dân, Bổ sung bằng trung học nghề
Theo đó, tại khoản 1 Điều 2 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng trung học nghề, bằng trung cấp, bằng cao đẳng; bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ và văn bằng chương trình đào tạo chuyên sâu của một số ngành, lĩnh vực đặc thù.
Theo khoản 1 Điều 34 Luật Giáo dục sửa đổi 2025 , Học sinh học hết chương trình giáo dục trung học cơ sở đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được hiệu trưởng nhà trường xác nhận học bạ việc hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học, chương trình giáo dục trung học cơ sở.
Hiệu trưởng cấp bằng tốt nghiệp THPT
Theo Điều 4 Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT Thẩm quyền cấp chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân thực hiện theo quy định của Luật số 43/2019/QH14 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 123/2025/QH15, Luật số 124/2025/QH15, Luật số 125/2025/QH15 và quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với chương trình đào tạo, bồi dưỡng hoặc kỳ thi cấp chứng chỉ.
Đồng thời khoản 2 Điều 34 Luật Giáo dục sửa đổi 2025 quy định Học sinh học hết chương trình giáo dục trung học phổ thông đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo được dự thi, đạt yêu cầu được hiệu trưởng nhà trường cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.
Trường hợp học sinh không dự thi hoặc thi không đạt yêu cầu thì được hiệu trưởng nhà trường cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông. Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông được sử dụng để đăng ký dự thi lấy bằng tốt nghiệp trung học phổ thông khi người học có nhu cầu hoặc để theo học giáo dục nghề nghiệp và sử dụng trong trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật.
Bổ sung quy định về văn bằng chứng chỉ số
Theo đó, tại khoản 3 Điều 2 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT thì văn bằng chứng chỉ số của hệ thống giáo dục quốc dân được quy định cụ thể như sau:
- Văn bằng số, chứng chỉ số (sau đây gọi chung là văn bằng chứng chỉ số) là văn bằng chứng chỉ được cấp dưới dạng kỹ thuật số từ cơ sở dữ liệu về văn bằng chứng chỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc của cơ quan cấp văn bằng chứng chỉ nếu được phân cấp (sau đây gọi chung là cơ sở dữ liệu về văn bằng chứng chỉ);
- Văn bằng chứng chỉ giây và văn bằng chứng chỉ số có giá trị pháp lý như nhau.
Lưu ý:
- Việc ký, cấp, sử dụng văn bằng chứng chỉ số và việc cập nhật, khai thác cơ sở dữ liệu về văn bằng chứng chỉ thực hiện theo lộ trình chuyển đổi số do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.
- Việc cấp lại, chỉnh sửa, thu hồi, hủy bỏ văn bằng chứng chỉ số thực hiện như đối với văn bằng chứng chỉ giấy.
Quy định mới về cấp bản sao văn bằng chứng chỉ từ số gốc
Tại Điều 17 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT thì việc cấp bản sao văn bằng chứng chỉ từ số gốc được thực hiện như sau:
- Cấp bản sao văn bằng chứng chỉ từ số gốc
+ Cấp bản sao văn bằng chứng chỉ từ sổ gốc là việc cơ quan quản lý sổ gốc cấp văn bằng chứng chỉ căn cứ vào số gốc hoặc dữ liệu văn bằng chứng chỉ trên cơ sở dữ liệu về văn bằng chứng chỉ để cấp bản sao. Bản sao văn bằng chứng chỉ từ sổ gốc có thể cấp dưới dạng văn bản giấy hoặc văn bản điện tử,
+ Các nội dung ghi trong bản sao văn bằng chứng chỉ từ sổ gốc phải chính xác so với số gốc hoặc cơ sở dữ liệu về văn bằng chứng chỉ.
- Thẩm quyền và trách nhiệm cấp bản sao văn bằng chứng chỉ từ sổ gốc: Cơ quan quản lý sổ gốc cấp văn bằng chứng chỉ có thẩm quyền và trách nhiệm cấp bản sao văn bằng chứng chỉ từ số gốc.
- Người có quyền yêu cầu cấp bản sao văn bằng chứng chỉ từ số gốc
Những người sau đây có quyền yêu cầu cấp bản sao văn bằng chứng chỉ từ số gốc:
+ Người được cấp bản chỉnh văn bằng chứng chỉ;
+ Người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền của người được cấp bản chính văn bằng chứng chỉ;
+ Trong trường hợp người được cấp văn bằng chứng chỉ đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, những người sau đây có quyền yêu cầu cấp bản sao văn bằng chứng chỉ từ sổ gốc: cha, mẹ, con; vợ, chồng; anh, chị, em ruột, người thừa kế khác của người được cấp bản chính văn bằng chứng chỉ.
Xem thêm tại Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT.