
Quy định về xác định lại vốn điều lệ của doanh nghiệp năm 2026 (Hình từ Internet)
Ngày 31/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định 366/2025/NĐ-CP về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Theo Điều 20 Nghị định 366/2025/NĐ-CP quy định việc xác định lại vốn điều lệ của doanh nghiệp như sau:
- Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp có hiệu lực thi hành, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ có trách nhiệm xác định lại vốn điều lệ của doanh nghiệp gửi cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt. Việc xác định lại vốn điều lệ phải hoàn thành trước khi thực hiện đầu tư bổ sung vốn theo quy định tại Mục 3, Mục 4 Chương II Nghị định 366/2025/NĐ-CP.
- Mức vốn điều lệ của doanh nghiệp được xác định lại tương ứng với vốn đầu tư của chủ sở hữu (mã số 411 trên bảng cân đối kế toán) theo báo cáo tài chính năm tại thời điểm kết thúc năm tài chính gần nhất với thời điểm xác định lại vốn điều lệ sau khi được cơ quan đại diện chủ sở hữu rà soát, xác định lại. Cơ quan đại diện chủ sở hữu chịu trách nhiệm về quyết định phê duyệt mức vốn điều lệ được xác định lại theo quy định tại Điều này.
- Doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện thủ tục điều chỉnh lại mức vốn điều lệ trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo mức vốn điều lệ xác định lại đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt.
- Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định của pháp luật về tổ chức tín dụng.
Tại Điều 21 Nghị định 366/2025/NĐ-CP quy định huy động vốn của doanh nghiệp như sau:
- Việc huy động vốn của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thực hiện theo quy định tại Điều 19 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được vay vốn nước ngoài theo phương thức tự vay, tự chịu trách nhiệm trả nợ cho bên cho vay nước ngoài theo đúng các điều kiện đã cam kết trong các thỏa thuận vay. Điều kiện, trình tự, thủ tục xem xét chấp thuận khoản vay nước ngoài của doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh.
Việc vay vốn nước ngoài của doanh nghiệp thực hiện theo quy định pháp luật về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp. Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Công ty phê duyệt phương án vay nước ngoài trung hạn, dài hạn của doanh nghiệp thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật có liên quan.
Đối với khoản vay nước ngoài của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý nợ công.
- Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ vay đúng mục đích, tự chịu mọi rủi ro và chịu trách nhiệm trước pháp luật trong quá trình huy động, quản lý, sử dụng vốn vay và trả nợ đúng hạn. Nhà nước không chịu trách nhiệm nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản nợ do doanh nghiệp trực tiếp vay.
- Trường hợp doanh nghiệp huy động vốn dẫn đến tổng số nợ phải trả bao gồm các khoản bảo lãnh đối với doanh nghiệp được bảo lãnh theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp vượt quá ba lần vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất với thời điểm huy động vốn, doanh nghiệp báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu sau khi phê duyệt phương án huy động vốn để giám sát theo quy định. Trong đó:
+ Tổng giá trị các khoản bảo lãnh được xác định bằng tổng số dư nghĩa vụ bảo lãnh đối với từng công ty do doanh nghiệp nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.
Vốn chủ sở hữu ghi trên bảng cân đối kế toán trong báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp được xác định không bao gồm chỉ tiêu “nguồn kinh phí và quỹ khác”.
+ Nợ phải trả ghi trên bảng cân đối kế toán trong báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp được xác định không bao gồm các chỉ tiêu: “Quỹ khen thưởng, phúc lợi”, “Quỹ bình ổn giá”, “Quỹ phát triển khoa học và công nghệ”.
- Việc huy động vốn vay hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi nước ngoài của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và công ty do doanh nghiệp nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thực hiện theo pháp luật về quản lý nợ công.
- Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ chỉ thực hiện bảo lãnh cho các công ty do doanh nghiệp nắm giữ trên 50% vốn điều lệ vay vốn tại các tổ chức tín dụng; việc bảo lãnh vay vốn để thực hiện dự án đầu tư phải trên cơ sở thẩm định hiệu quả của dự án đầu tư và phải có cam kết trả nợ đúng hạn đối với khoản vay được bảo lãnh. Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ có trách nhiệm giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và trả nợ đúng hạn đối với các khoản vay do doanh nghiệp bảo lãnh.